Không Gian Chữ - Web Tạo Truyện Chữ Bằng AI
×
Không Gian Vạn Giới
Dùng 500 Mảnh Vỡ để triệu hồi Hệ Thống.
(Tỉ lệ Rank S - Màu Đỏ: 0.15%)
Chưa có HT
Kho Đồ
500
×
🎒 Kho Hệ Thống

Chọn 1 hệ thống để kích hoạt hoặc nhiều món cùng cấp để dung hợp.

Đang tải dữ liệu...
← Quay lại: Thiên Lộ Du Hành Ký

Chương 20: Tam Ngọc Hộ Mệnh, Nghiệt Tử? Giáng Sinh

🧾 Chương 20 🕒 04/09/2026 09:23 👁 1735 lượt xem
Chương 20: Tam Ngọc Hộ Mệnh, Nghiệt Tử? Giáng Sinh

Vô Nghiên mất dần thần thức trôi lạc trong đường hầm luân hồi, bỗng nhiên có ba viên ngọc từ xa lao tới xoay tròn quanh thân thể cậu. Một viên lam sắc như trời thu, một viên đỏ tựa huyết tinh, một viên vàng rực sáng như nhật quang. Ánh sáng ba màu hòa quyện chiếu sáng thân thể cậu lướt theo đường hầm luân hồi.

“Ba viên ngọc này là?”

Quan Âm Bồ Tát khẽ cất lời.

Chiêu Linh Thánh nhân đáp:

“Thanh Linh Ngọc, Hồng Hưng Ngọc, Hoàng Quang Ngọc...”

Thánh nhân cùng với Quan Âm Đại Sĩ đứng trên mây ngàn, rất cao khi nhìn từ Phong Đô Thành nhìn lên. Xung quanh vẫn là địa thế nơi âm ty, màn đêm vẫn bao chùm mọi thứ, chỉ có hào quang và thân ảnh hai người sáng rực.

Quan Âm Bồ Tát hỏi:

“Dám hỏi Đại Thánh Giả dùng nó làm chi?”

Thánh nhân nhắm mắt lại đáp:

“Thiện!”

Chiêu Linh mở mắt lại rồi quay đầu bước đi rồi nói:

“Đi thôi!”

Trong tức khắc hai luồng đạo quang lóe lên, Thánh nhân và Bồ Tát đã rời khỏi U Minh.

Xong xuôi mọi việc tại Phong Đô, Diêm La Quân cũng trở về điện phủ của mình. U Minh dần lặng xuống, chỉ còn lại Địa Tạng Vương Bồ Tát lưu lại nơi âm ty, tiếp tục thuyết pháp độ sinh.

Bồ Tát đứng giữa biển khổ u minh, ánh từ quang dịu nhẹ bao phủ bốn phương. Nhìn vô số chúng sinh vẫn chìm trong nghiệp lực, chịu cảnh trầm luân, nét buồn thương hiện rõ trên dung nhan từ bi.

Ngài khẽ thở dài, trong lòng tự nhủ:

“Đã dặn rằng thoát ra được thì chớ quay lại. Nếu vẫn bước vào, ắt vẫn còn phải chịu khổ.”

Nhân gian

Vùng Chu Diên, Giao Chỉ

Vô Nghiên đầu thai vào một gia đình nông dân tại làng Sơ Mướt.

Gia chủ là ông Nguyễn Khoa, lấy vợ nơi xa tên Doãn Nương. Cha mẹ mất sớm, lại là con một, Nguyễn Khoa từ nhỏ đã quen sống tự lập. Ngoài việc đồng áng, ông còn khéo tay chế tác bàn ghế bằng tre gỗ để đổi lấy gạo muối qua ngày.

Năm mười chín tuổi, trong một chuyến đi xa, ông gặp Doãn Nương đang chạy nạn lũ. Thấy nàng cô độc giữa dòng người ly tán, ông dang tay giúp đỡ. Từ nghĩa tình mà nên duyên, về sau kết làm vợ chồng.

Ngày ấy, Doãn Nương lâm bồn.

Nguyễn Khoa ngồi bên chiếc bàn tre trước sân, hai tay đan chặt, vẻ mặt thấp thỏm lo âu. Người làng qua lại động viên, trong nhà bà đỡ cùng vài phụ nữ tất bật giúp sinh.

Không khí căng thẳng kéo dài.

Một lúc sau, một thầy pháp bước tới, nét mặt rạng rỡ:

“Nghe tin phu nhân hôm nay hạ sinh, ta đến chúc mừng.”

Nguyễn Khoa vội kính cẩn mời ngồi.

Đúng lúc ấy, từ trên cao, ba luồng ánh sáng lam, đỏ, vàng xoay chuyển rồi lao thẳng xuống mái nhà. Mọi người kinh ngạc, song lại mừng rỡ, ngỡ là điềm lành.

Nguyễn Khoa hỏi:

“Thưa thầy… đó là gì?”

Thầy pháp nhíu mày, lẩm nhẩm tính toán:

“Có thể là điềm lành… để ta xem đứa trẻ đã.”

Ba luồng đạo quang hợp lại thành một, lao vào thân thể Doãn Nương. Ánh sáng bùng lên, chiếu rực bốn phương, khiến mọi người chói mắt phải lùi lại.

Quang mang ấy thậm chí xuyên thấu thiên giới.

Trên cao, tại thiên đình, ánh sáng làm chói mắt Thượng Đế. Ngài giận dữ quát:

“Là kẻ nào phá giấc ngủ của trẫm?!”

Lão Thiên Sứ đứng bên khom người thưa:

“Bệ hạ bớt giận, để lão thần xem xét.”

Thượng Đế phất tay:

“Không cần, để trẫm tự xem.”

Một đạo linh quang hiện lên, cảnh phàm gian hiển lộ.

Lão Thiên Sứ chậm rãi nói:

“Phàm nhân hạ sinh mà xuất hiện dị tượng như vậy… thưa bệ hạ, e rằng nên—”

Thượng Đế lạnh lùng:

“Còn phải nói? Tiêu diệt mầm họa này đi.”

Lão Thiên Sứ cúi đầu lĩnh mệnh, chuẩn bị rời đi.

Bỗng Thượng Đế khẽ nhếch môi:

“Khoan. Cứ để sinh linh phàm gian tự sinh tự diệt.”

Ngài mỉm cười khoái chí rồi nhắm mắt trở lại giấc ngủ.

Dưới trần gian, khi ánh sáng tan biến, một luồng linh lực hắc ám vô hình lan khắp mười phương. Người thường không nhận ra, nhưng sâu trong khắp rừng núi, những tiếng gầm trầm thấp vang vọng như đáp lại một điềm triệu cổ xưa.

Bên trong căn nhà vang lên tiếng reo:

“Ra rồi! Sinh rồi! Là một bé trai!”

Đứa trẻ nằm trong tã lót, thân thể tỏa hào quang nhè nhẹ. Trên trán nó hiện một ấn ký đen mờ, lúc ẩn lúc hiện.

Nguyễn Khoa xúc động bế con, đưa cho thầy pháp xem.

Thầy pháp bước tới, nhưng nụ cười trên mặt chợt tắt.

Ông hoảng hốt ngã xuống, liên tục lùi lại:

“Nghiệt chủng… đứa trẻ này là nghiệt chủng! Nhất định sẽ gây đại họa!”

Nói xong, ông quay đầu bỏ chạy. Dân làng kinh hãi lùi xa.

Một người từ trong nhà hớt hải chạy ra:

“Không xong rồi! Doãn Nương…”

Mọi người thất kinh lao vào trong.

Doãn Nương nằm yếu ớt, hơi thở mong manh. Nàng nhìn chồng, giọng run run:

“Nguyễn Khoa… ta biết con chúng ta không phải đứa trẻ tầm thường. Sau khi ta đi… chàng đừng bỏ rơi nó… hãy nuôi con khôn lớn. Ở thế giới bên kia… ta sẽ phù hộ cho hai cha con.”

Lời vừa dứt, nàng khẽ mỉm cười.

Hơi thở tắt.

Căn phòng chìm trong tĩnh lặng.

Ngoài kia, gió núi thổi qua làng Sơ Mướt, mang theo dự cảm về một số mệnh vừa bắt đầu.

Suốt mười năm trời, Nguyễn Khoa một mình nuôi dưỡng con trong muôn vàn gian truân.

Từ ngày đứa trẻ chào đời, dân làng Sơ Mướt luôn xa lánh hai cha con. Người ta thì thầm về dị tượng hôm ấy, về lời thầy pháp bỏ chạy trong kinh hãi rồi bỏ mạng sau mấy hôm, dần dần dựng nên một bức tường vô hình ngăn cách họ với mọi người.

Nguyễn Khoa lặng lẽ chịu đựng.

Ban ngày ông ra đồng cày cấy, tối đến lại vào rừng chặt tre, đốn gỗ. Những lúc nông nhàn, ông cặm cụi đóng bàn ghế, gánh sang các làng xa đổi lấy gạo muối. Đôi vai gầy ngày một chai sạn, bàn tay thô ráp nứt nẻ vì mưa nắng, chỉ mong nuôi con khôn lớn.

Ông đặt tên cho con là Nguyễn Tưởng An.

“Tưởng” là nỗi nhớ dành cho người vợ đã khuất.
“An” là mong ước con trai một đời bình an, tránh xa tai họa.

Tưởng An lớn lên giữa núi rừng, không bè bạn, không tiếng gọi vui đùa của trẻ nhỏ. Nhưng bù lại, cậu có một thân thể phi thường vượt xa người thường.

Năm nay vừa tròn mười tuổi. Cậu có thể leo lên sườn núi dốc đứng rồi nhảy xuống mà thân thể không hề trầy xước. Lặn sâu xuống lòng suối lạnh mà không cần nín thở. Những tảng gỗ nặng mà người lớn khiêng còn khó, cậu lại có thể nhấc lên bằng đôi tay trần.

Người trong vùng đôi lần trông thấy đều kinh hãi tránh xa, càng tin rằng đứa trẻ ấy không phải phàm nhân.

Chỉ có Nguyễn Khoa nhìn con bằng ánh mắt trầm lặng.

Không vui mừng.

Không sợ hãi.

Chỉ thấp thoáng một nỗi lo mơ hồ về số mệnh đang chờ phía trước.

Hôm ấy, Nguyễn Khoa bận sang làng bên giao bàn ghế, trong nhà chỉ còn lại Tưởng An. Được dịp rảnh rang, cậu ham chơi đuổi theo một con côn trùng lấp lánh, chạy mãi cho đến tận bờ sông Nhuệ. Bên sông, một người ngư dân vừa thu lưới, tôm cá và cua chất đầy trong giỏ. Tưởng An tò mò lại gần mép nước thì chợt thấy những viên đá ven bờ khẽ rung động như có thứ gì bên dưới đang giãy giụa.

Cậu cúi xuống lật những hòn đá lên. Bên dưới là một con cua lớn bị vùi lấp trong bùn cát.

Thân cua to gần một thước hai tấc, mai đỏ sẫm bóng như giáp sắt cổ xưa, các khớp chân chắc khỏe. Đôi mắt phát ra ánh lam rực rỡ, trên đầu và ngực gắn những tinh thạch xanh biếc. Hai càng khổng lồ khép lại quanh một xoáy nước nhỏ đang phát sáng huyền ảo. Quanh thân nó lan tỏa linh tức thủy hệ mỏng manh nhưng thần bí. Trên mai còn hằn vài vết xước sâu, dường như do đá va đập khi mắc cạn.

Không chần chừ, Tưởng An nhấc con cua lên, đem thả xuống dòng nước. Cậu múc nước tạt nhẹ lên thân nó. Làn nước chảy qua tay cậu mang theo linh lực vô hình, thấm vào mai cua, khiến những vết thương dần khép lại.

Nhìn lớp vỏ đỏ óng ánh, cậu tròn mắt thích thú:

“Con cua này đẹp quá!”

Bất ngờ, toàn thân con cua phát ra ánh linh quang màu cam. Năng lượng xoay chuyển quanh thân rồi hóa thành hình người.

Trước mặt cậu giờ đây là một thiếu niên chừng mười tuổi, vóc dáng nhỏ nhắn nhưng toát ra khí chất linh thú.

Khuôn mặt sáng sủa, nụ cười tinh nghịch mà tự tin. Đôi mắt xanh sâu thẳm như chứa cả đại dương. Trên đầu đội vương miện vàng khảm lam bảo thạch. Tóc đỏ rực buông xuống vai. Áo bào cổ phong đỏ–đen viền vàng, hoa văn tựa giáp xác và sóng nước. Đai lưng gắn bảo thạch lam phát sáng, giáp vai và hộ thủ kim loại tạo hình càng cua. Ống tay rộng, vạt áo nhiều lớp mang phong thái huyền huyễn cổ xưa.

Tưởng An kinh ngạc lùi lại, té ngửa xuống bãi cát.

“Cậu là…?”

Thiếu niên cúi đầu cảm tạ:

“Đa tạ cậu đã cứu ta.”

Tưởng An ngồi bật dậy, ngập ngừng hỏi:

“Cậu là… yêu sao?”

Nghe vậy, thiếu niên hơi nhíu mày:

“Hừ… vừa gặp đã thất lễ vậy sao?”

Tưởng An gãi đầu lúng túng:

“Xin lỗi… vậy cậu là ai?”

Thiếu niên đáp:

“Ta tên Xích Giải. Vốn là linh cua tu luyện nơi khúc sông này. Nhưng do loài người săn bắt sinh linh quá nhiều, khi ta thoát xác đã bị thương, suýt mất mạng.”

Tưởng An tò mò hỏi tiếp:

“Vậy… cậu biết dùng phép thuật chứ?”

Xích Giải nở nụ cười:

“Tất nhiên. Cậu xem đây.”

Cậu vung tay, linh lực hội tụ, một viên ngọc lam trong suốt hiện ra giữa không trung, tỏa ánh sáng dịu mát như nước sâu.

Tưởng An mắt sáng rỡ, say mê ngắm nhìn.

Một lúc sau, Xích Giải khẽ lên tiếng:

“Huynh đệ… cậu có thể cho ta ở nhờ nhà cậu không? Nếu còn ở lại đây, e rằng ta sớm muộn cũng bị đưa lên thớt của loài người các cậu.”

Tối hôm ấy, khi Nguyễn Khoa trở về sau một ngày làm lụng vất vả, ông vừa bước qua ngưỡng cửa đã khựng lại.

Mâm cơm đơn sơ đã được dọn sẵn trên bàn tre, khói canh còn bốc nhẹ. Điều khiến ông ngạc nhiên hơn cả là bên cạnh Tưởng An lại có thêm một đứa trẻ lạ đang ngồi ngay ngắn.

Ông đặt đồ xuống, bước vào nhà rồi hỏi:

“Tưởng An, đây là ai?”

Đứa trẻ lạ lập tức đứng dậy, tiến lên một bước, chắp tay lễ phép:

“Bác ạ, con tên là Xích Giải.”

Tưởng An nhanh nhảu nói tiếp:

“Con mới quen cậu ấy hôm nay. Nhà cậu ấy gặp nạn, không còn nơi nương tựa nên lưu lạc tới đây. Cha… cha có thể cho cậu ấy ở lại với chúng ta không?”

Nguyễn Khoa nhìn hai đứa nhỏ, ánh mắt chuyển sang mâm cơm rồi hỏi:

“Hai con chuẩn bị cơm sao?”

Cả hai lập tức gật đầu lia lịa, đôi mắt tròn xoe nhìn ông đầy hy vọng.

Nguyễn Khoa im lặng một lúc. Bao năm qua ông đã quen với cô độc và sự xa lánh của dân làng. Nay trong căn nhà nhỏ lại xuất hiện thêm một đứa trẻ lạc lõng giống như cha con ông năm nào.

Ông khẽ thở dài, rồi gật đầu:

“Thôi được… ở lại đi.”

Thế rồi ba người sống cùng nhau qua tháng ngày lặng lẽ. Năm tháng trôi đi, Xích Giải dường như đã quên mất thân phận linh thú của mình, tự xem bản thân là một thành viên trong gia đình nhỏ ấy. Cậu gọi Tưởng An là ca, còn Tưởng An gọi lại là đệ. Hai người lớn lên bên nhau, gắn bó như ruột thịt, đồng cam cộng khổ, chưa từng rời nửa bước.

Thấm thoắt tám năm đã trôi qua.

Hôm ấy, hai người ra bờ sông luyện phép như thường lệ. Tưởng An vận linh lực, sóng nước dâng cao thành từng cột, cuộn xoáy giữa không trung. Hơi nước bốc lên mờ ảo, gió nổi lên khiến cây cối xung quanh rung chuyển, lá bay phần phật như bị cuốn vào dòng khí lực vô hình.

Xích Giải đứng bên vỗ tay liên hồi, ánh mắt rạng rỡ:

“Ca à, công lực của ca ngày càng tinh tiến rồi đó!”

Tưởng An mỉm cười:

“Giải, đệ cũng đâu kém cạnh.”

Xích Giải nghiêng đầu, vẻ tò mò hiện rõ:

“Ta cứ tưởng ca vốn chỉ là người phàm… ai ngờ linh lực lại hùng hậu đến vậy.”

Tưởng An nhìn xuống mặt nước, đáp chậm rãi:

“Cha kể rằng lúc ta sinh ra từng xuất hiện dị tượng. Nhưng linh lực này từ đâu mà đến… ta cũng không rõ.”

Xích Giải bỗng sáng mắt:

“Ca! Vậy chúng ta đấu một trận thử xem!”

Tưởng An bật cười:

“Được thôi!”

Lời vừa dứt, hai thân ảnh hóa thành hai luồng đạo quang lao vào không trung, va chạm kịch liệt. Sóng nước nổ tung thành màn sương bạc, linh lực xoáy động làm mặt sông cuộn trào dữ dội. Hai luồng sáng đan xen, tách ra rồi lại hợp vào như giao long tranh đấu.

Sau hồi lâu giao thủ, cả hai thu công đáp xuống bờ sông.

Họ ngồi nghỉ trên một tảng đá lớn, thở nhẹ trong làn gió mát từ mặt nước thổi lên, để mặc dư âm linh lực tan dần vào không gian tĩnh lặng.

Tưởng An ngồi ngang trên tảng đá lớn, dáng vẻ oai phong lẫm liệt. Mái tóc đen dài buộc gọn sau đầu bay nhẹ trong gió, áo choàng nâu tung rộng phía sau vẽ nên đường cong mạnh mẽ đầy khí thế. Bộ y phục đỏ thẫm viền hoa văn vàng rực nổi bật giữa nền trời xanh thẳm; biểu tượng tròn trước ngực tựa hình trống đồng, càng tôn lên vẻ trang nghiêm và uy dũng. Một tay cậu siết quyền đặt trên đầu gối, tay còn lại buông lỏng, ánh mắt hướng xa xăm nơi chân trời. Gió khẽ lay từng lọn tóc mềm, ôm lấy gương mặt tuấn tú mà kiên nghị. Những đường nét góc cạnh trên khuôn mặt Tưởng An rõ ràng như được tạc từ băng tuyết, làn da trắng sáng khiến thần thái càng thêm thanh khiết mà cứng cỏi.

Tựa lưng vào cậu, Xích Giải lúc này không còn là thiếu niên nhỏ bé ngày nào, mà đã hóa thành một thiếu niên phong thái soái khí chừng mười tám tuổi. Thân hình cao ráo, cân đối và rắn rỏi. Gương mặt tuấn tú với những đường nét sắc sảo, sống mũi thẳng, môi khẽ cong thành nụ cười tự tin pha chút ngạo nghễ. Đôi mắt xanh sâu thẳm như đại dương đêm, ánh nhìn vừa bình tĩnh vừa uy nghi. Mái tóc đỏ rực buông dài đến vai, óng ánh dưới ánh sáng như ngọn lửa sống.

Trên đầu cậu vẫn đội vương miện vàng khảm lam bảo thạch, lam quang nhàn nhạt lan tỏa khiến khí chất thêm phần thần bí và cao quý. Áo bào cổ phong đỏ – đen viền vàng ôm gọn thân hình, hoa văn chạm nổi tựa giáp xác và sóng nước cuộn trào, tạo cảm giác vừa uy vũ vừa linh động. Đai lưng gắn lam bảo thạch phát sáng nhẹ theo từng nhịp thở, như nguồn linh lực đang lưu chuyển. Ống tay rộng cùng nhiều lớp vạt áo lay động, mang theo phong thái huyền huyễn cổ xưa.

Xích Giải liếc mắt nhìn trời rồi nói:

“Ca, cũng muộn rồi, ta về giúp cha thôi.”

Tưởng An quay đầu, khẽ cười:

“Đi thôi, Giải!”

Hai thân ảnh hóa thành hai luồng đạo quang xé gió lao đi. Chỉ trong chớp mắt, họ đã trở về ngôi nhà tranh quen thuộc.

Căn nhà tuy không thay đổi nhiều, nhưng đã trở nên vững chắc và khang trang hơn trước. Nhờ linh lực của Tưởng An cùng Xích Giải, cuộc sống gia đình Nguyễn Khoa dần khá giả, không còn cảnh túng thiếu như xưa.

Ngoài sân, Nguyễn Khoa đang ngồi đóng ghế gỗ. Khi mệt, ông đặt dụng cụ xuống, bước lại bàn tre nhấp một ngụm nước.

Đúng lúc ấy, hai luồng quang ảnh đáp xuống trước sân.

Tưởng An và Xích Giải cúi đầu chào:

“Cha, chúng con về rồi.”

Nguyễn Khoa đặt chén nước xuống bàn tre, khẽ gật đầu, giọng trầm mà ấm:

“Hai con về rồi thì vào trong chuẩn bị ăn tối đi.”

Tưởng An và Xích Giải nhìn nhau một cái, rồi vội bước tới, đồng thanh nói:

“Cha làm xong chưa? Để hai đứa con phụ một tay!”

Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!

💬 Bình luận chương