Chương này sẽ hơi đặc biệt 1 chút vì sẽ được viết dưới dạng chương hồi.
HỒI I: LY BIỆT GIANG HỒ – HẸN ƯỚC TRƯỜNG YÊN
Ba hôm sau buổi múa rối nước, Vũ Mộng Lâu mở cửa từ sớm hơn thường lệ.
Không phải để tiếp khách phong nguyệt, cũng không phải vì có buổi diễn mới của Tiểu Phi Yến, mà vì Kiều Trang mỹ nhân đã tự tay treo một tấm rèm đỏ trước nhã gian tầng hai, căn dặn tiểu nhị:
“Hôm nay nhã gian ấy không tiếp người ngoài. Trà phải là trà hoa nhài pha mơ lạnh cho Thiên Băng, trà tâm sen cho Hoàng đại tiểu thư, trà quýt nhạt cho Hoàng nhị tiểu thư. Bánh hạt dẻ đem lên lúc còn nóng. Bánh hoa quế ít ngọt. Bánh mật gừng cắt nhỏ. Rượu thì để sau, đừng để mấy vị Vương Gia chưa bàn việc đã uống đến nói năng như chú Tễu.”
Tiểu nhị cúi đầu vâng dạ, trong lòng lại thầm nghĩ, Tú bà nhà mình miệng thì chê người khác ồn ào, nhưng chuẩn bị còn kỹ hơn cả cung yến. Vũ Mộng Lâu lúc ban ngày có vẻ khác hẳn ban đêm.
Ban đêm, nó như một giấc mộng đỏ treo giữa Đông Kinh, đèn lụa chập chờn, tiếng đàn chảy xuống phố như nước, mỹ nhân cười sau rèm khiến khách say trước khi chạm vào rượu.
Ban ngày, khi đèn chưa thắp, rèm lụa được buộc gọn, nắng rơi qua song cửa, tòa lầu hiện ra sạch sẽ, thoáng đãng, tinh tế. Trên các xà gỗ vẫn còn treo chuông bạc của Hạ Thiên Băng, nhưng chuông nằm yên trong gió sớm. Những chậu cây do Sở Gia Huy đặt trong lầu xanh mướt, rễ bám vào các mấu gỗ như một lớp trận pháp âm thầm. Ở góc tầng hai, các ống trúc buộc dây màu được xếp ngay ngắn: xanh cho giang hồ, đỏ cho tin khẩn, vàng cho tiền bạc, trắng cho yêu tà, hồng cho chuyện tình cảm — thứ mà Hạ Thiên Băng từng nhất quyết bảo “dễ khiến người ta lộ bí mật nhất”.
Giờ Mùi vừa đến, người đầu tiên bước vào nhã gian là Sở Trọng Duy.
Hắn mặc thường phục màu xám nhạt, cổ áo vừa đủ che ấn ký thần tích ở giữa cổ, dáng vẻ ôn hòa như nước suối chảy qua đá. Trong tay hắn cầm hai cuốn địa chí, một tấm bản đồ đường thủy và đường bộ đến Trường Yên Phủ, còn có vài mảnh giấy ghi chú do chính hắn viết.
Hạ Thiên Băng đang ngồi trên lan can tầng hai, một chân buông xuống, tay cầm bánh hạt dẻ ăn rất vui vẻ. Thấy hắn, nàng lập tức vẫy tay.
“Trọng Duy! Ngươi đến sớm quá.”
Sở Trọng Duy đặt bản đồ lên bàn.
“Đến sớm để kiểm tra xem Thiên Băng có thật sự chuẩn bị bàn chuyện hay chỉ chuẩn bị bánh.”
Hạ Thiên Băng chớp mắt.
“Bàn chuyện cần bánh ngọt để khai vị. Không có bánh, người ta sẽ buồn ngủ.”
“Vậy hôm nay chắc không ai buồn ngủ.”
Nàng cười đến chuông bạc trên cổ tay rung lên.
“Ngươi hiểu ta nhất.”
Sở Trọng Duy mỉm cười, ngồi xuống, không nói thêm. Hắn đã quen với Hạ Thiên Băng như vậy: tươi sáng, nhanh nhẹn, vui vẻ, nhưng trong lòng có rất nhiều nỗi nhớ không dễ nói. Nàng giống chim én, nhìn thì chỉ thấy bay lượn dưới trời cao, nhưng chim én cũng có lúc mỏi cánh cần một mái hiên yên ổn.
Không lâu sau, Sở Gia Huy đến. Hắn mặc áo viên lĩnh màu xanh thẫm, bên ngoài khoác áo đối khâm lụa mỏng trắng ngà thêu lá trúc chìm. Tay cầm quạt, dáng vẻ phong lưu không đổi, nhưng khi vừa vào nhã gian, ánh mắt hắn trước hết lại tìm Hạ Thiên Băng. Hạ Thiên Băng ngẩng đầu nhìn hắn.
“Ngũ Vương Gia, huynh đến muộn hơn Trọng Duy.”
“Ta đi mua bánh.”
“Trong lầu có bánh rồi.”
Sở Gia Huy đặt hộp giấy dầu trong tay lên bàn, ung dung mở ra.
“Bánh khoai mật mới ra lò ở Thanh Long môn. Tiểu Phi Yến từng nói muốn ăn thử.”
Hạ Thiên Băng lập tức quên mất chuyện hắn đến muộn, nhảy xuống khỏi lan can, chạy đến bên bàn.
“Huynh nhớ thật sao?”
Sở Gia Huy nhìn nàng, cười:
“Trí nhớ ta vốn tốt.”
Sở Trọng Duy ngồi bên cạnh, chậm rãi rót trà.
“Đặc biệt tốt với chuyện của Thiên Băng.”
Sở Gia Huy khựng lại.
Hạ Thiên Băng cầm bánh khoai mật, hơi nghiêng đầu nhìn hắn. Ánh mắt nàng sáng trong, trong veo, nhưng dạo gần đây lại không còn vô tư hoàn toàn như trước. Kể từ hôm Sở Gia Huy nhìn nàng bằng ánh mắt khác lạ sau buổi múa rối nước, trong lòng nàng cũng như có một sợi tơ rất mảnh, thỉnh thoảng bị gió kéo động.
Nàng chưa từng hỏi. Hắn chưa từng nói. Nhưng có những thứ dù chưa nói cũng đã đổi khác. Hạ Thiên Băng cắn một miếng bánh, vị khoai mật ngọt mềm lan trong miệng. Nàng cười:
“Vậy thưởng cho trí nhớ của huynh.”
Nàng bẻ nửa chiếc bánh còn lại đưa cho hắn. Sở Gia Huy nhìn nửa chiếc bánh trong tay nàng.
Nếu là trước kia, hắn sẽ cười đùa vài câu rồi nhận rất tự nhiên. Nhưng sau khi được Sở Trọng Duy “khai sáng”, hắn bỗng thấy nửa chiếc bánh ấy giống một tín vật quá mức nguy hiểm. Nhận thì tim loạn, không nhận thì càng ngốc. Cuối cùng, hắn vẫn nhận.
“Đa tạ.”
Hạ Thiên Băng cười cong mắt.
“Sao hôm nay khách khí thế?”
Sở Gia Huy mở quạt che nửa mặt.
“Bánh ngon khiến người ta cũng muốn trang trọng.”
Sở Trọng Duy cúi đầu uống trà, cố nhịn cười. Không bao lâu, Sở Viên đưa Hoàng Nhã Nhã và Hoàng Nhật Nguyệt đến.
Nói là “đưa” cũng không đúng hẳn. Xe ngựa phủ Thượng Thư tự đến, nhưng Sở Viên đã chờ sẵn ngoài Vũ Mộng Lâu, đứng dưới mái hiên với dáng vẻ như tình cờ đi ngang từ nửa canh giờ trước. Trên tay hắn cầm một chiếc quạt mới, mặt quạt vẽ thủy đình và chú Tễu hôm trước, nhưng lần này chú Tễu đội một chiếc mũ nhỏ viết hai chữ “đi chơi”.
Hoàng Nhã Nhã vừa xuống xe đã nhìn thấy. Nàng im lặng một thoáng. Sở Viên mở quạt, cười rất sáng:
“Hoàng đại tiểu thư, ta vẽ theo lời chú Tễu hôm trước: lười học cũng phải ăn cơm, mệt rồi cũng nên đi chơi.”
Nhật Nguyệt đứng bên cạnh suýt bật cười.
“Đại Vương Gia, chú Tễu mà biết ngài mượn lời như vậy chắc sẽ đòi tiền bản quyền.”
Sở Viên nghiêm túc hỏi:
“Bản quyền là thứ gì?”
Nhật Nguyệt khựng lại, quên mất mình nói lỡ từ hiện đại. Hoàng Nhã Nhã liếc muội muội một cái, rồi bình tĩnh cứu nàng:
“Có lẽ ý Nguyệt Nhi là tiền thưởng cho người nghĩ ra câu nói.”
Sở Viên lập tức gật đầu:
“Vậy hôm nào ta phải thưởng cho phường rối thêm bạc.”
Hoàng Nhã Nhã nhìn cây quạt, cuối cùng không nhịn được, khóe môi cong lên. Sở Viên thấy nàng cười, lập tức cảm thấy cả Vũ Mộng Lâu hôm nay sáng hơn mười phần.
Hắn không còn chỉ muốn giữ lễ đúng mực trước nàng như ba năm trước. Hắn muốn nàng vui. Muốn nàng cười. Muốn sân trúc trong lòng nàng không chỉ có trà lạnh và tranh mực, mà cũng có vài ngọn đèn, vài tiếng phách, vài câu đùa ngốc nghếch của chú Tễu. Hắn không sợ mình thành kẻ ngốc trước mặt nàng. Nếu sự ngốc ấy khiến nàng thấy nhẹ lòng, hắn cam tâm tình nguyện. Sở Tĩnh Hàn đến sau cùng.
Hắn mặc thường phục màu đen lam, tay áo gọn, bên hông đeo kiếm, tóc buộc quan bạc đơn giản. Vừa bước vào, không khí náo nhiệt trong nhã gian như lắng lại một nhịp, không phải vì hắn cố ý tạo uy, mà vì bản thân hắn đã quen mang theo sự trầm tĩnh của người từng đi qua chiến trường và triều đường. Nhật Nguyệt ngẩng đầu nhìn hắn.
Từ sau buổi múa rối nước, nàng vẫn nhớ cảnh hắn đưa mình về phủ. Nhớ bàn tay hắn đỡ nàng xuống xe. Nhớ giọng hắn nói “là ta tự nguyện”. Nhớ lọ thuốc nhỏ mình đưa hắn, không biết hắn có dùng hay không. Nàng vốn định hỏi, nhưng khi hắn ngồi xuống đối diện, lời đến môi lại thành:
“Tam Vương Gia, vết thương của người đã đỡ chưa?”
Sở Tĩnh Hàn nhìn nàng. Trong mắt hắn có một tia ấm áp rất nhẹ.
“Đã đỡ. Thuốc của nàng dùng rất tốt.”
Chỉ một câu. Nhật Nguyệt bỗng thấy lòng mình như có bông tuyết rơi vào nước ấm, tan ra không tiếng động.
“Vậy thì tốt.”
Nàng cúi đầu uống trà, không hiểu vì sao khóe môi lại muốn cong lên. Sở Cuồng không có mặt.
Hắn bị chính sự giữ trong cung từ sau cấp báo quân vụ. Vì vậy buổi tụ họp ở Vũ Mộng Lâu hôm nay không có bóng dáng vị Quan gia trẻ tuổi. Điều ấy khiến không khí nhẹ hơn một chút, ít nhất là với Sở Tĩnh Hàn, dù hắn chưa từng thừa nhận mình để tâm đến sự hiện diện của hoàng huynh.
Tử Hàn Diệp cũng xuất hiện vào giữa buổi. Hắn đến như một cơn gió. Áo bụi đường, tóc buộc cao, bên hông đeo kiếm, trên vai vắt túi hành trang. Vừa bước vào nhã gian, hắn đã cười:
“Ta vừa về Đông Kinh ba ngày, còn tưởng không kịp gặp mọi người.”
Sở Vy không có mặt trong buổi tụ họp này, vì Đỗ Thái Hậu giữ nàng trong cung học lễ nghi. Nhưng khi nghe nhắc đến Tử Hàn Diệp, Nhật Nguyệt lập tức nghĩ đến cô nương ôm đèn chim én hôm trước.
Tử Hàn Diệp đặt lên bàn vài món quà nhỏ: một túi đá cuội nhiều màu từ suối núi, một chiếc chuông đồng nhỏ mua ở chùa cổ, vài tờ giấy thô vẽ phong cảnh đường xa, và một túi hạt cây lạ. Hạ Thiên Băng cầm túi hạt lên.
“Đây là gì?”
“Ta cũng không biết.” Tử Hàn Diệp nói rất tự tin. “Một ông lão nói gieo xuống sẽ mọc hoa rất đẹp.”
Sở Gia Huy nhìn túi hạt.
“Ngươi không biết là gì mà dám mang về?”
“Giang hồ thú vị ở chỗ đó.”
Sở Tĩnh Hàn lạnh nhạt nói:
“Nếu mọc ra cây ăn người, ta sẽ cho người đem đến phủ ngươi.”
Tử Hàn Diệp lập tức cười gượng:
“Tam Vương Gia vẫn nghiêm khắc như xưa.”
Nhật Nguyệt nhìn hắn, hỏi khẽ:
“Ngươi có gửi thư cho Sở Vy chưa?”
Nụ cười của Tử Hàn Diệp dịu xuống.
“Có. Lát nữa ta sẽ vào cung đưa cho thị vệ Từ An Cung. Ta mua cho nàng một quyển du ký mới, còn có mấy lá phong ép trong sách.”
Hắn nói rất tự nhiên. Không biết Sở Vy sẽ vui đến mức nào khi nhận được. Cũng không biết mỗi lá phong trong sách có thể khiến nàng nghĩ về hắn thêm bao lâu.
Hắn chỉ là ngọn gió quen tự do, chưa hiểu rằng có một cánh chim trong cung đang yêu mình bằng tất cả sự thầm lặng của một trái tim nhiều tự ti. Buổi tụ họp nhanh chóng đi vào chuyện chính.
Sở Trọng Duy trải bản đồ Trường Yên Phủ lên bàn. Trên bản đồ, sông uốn quanh núi đá, đường bộ xuyên qua vài trấn nhỏ, có đánh dấu bến thuyền, chùa cổ, hang động và những khu vực cần tránh vì địa thế hiểm.
“Trường Yên Phủ cách Đông Kinh không quá xa, nhưng đường thủy quanh co. Nếu đi chậm để ngắm cảnh, từ kinh thành đến đó mất chừng hai ngày rưỡi. Đi đường bộ thì nhanh hơn một chút, nhưng bỏ lỡ cảnh sông nước.”
Hạ Thiên Băng lập tức nói:
“Đi đường thủy! Đã du ngoạn thì phải có thuyền, có núi, có nước, có gió.”
Sở Gia Huy nhìn nàng:
“Nàng muốn bay trên thuyền?”
“Đúng vậy. Bay trên thuyền nghe đã thấy vui.”
Sở Tĩnh Hàn nhìn bản đồ:
“Đường thủy đẹp nhưng khó phòng khi có biến. Nếu đi, cần mang theo hộ vệ.”
Sở Viên gật đầu:
“Ta có thể điều một nhóm hộ vệ đi xa phía sau, không làm mất hứng du ngoạn.”
Hoàng Nhã Nhã nhìn bản đồ, ngón tay dừng ở khu vực có nhiều hang đá.
“Chỗ này là gì?”
Sở Trọng Duy đáp:
“Hang nước. Địa chí nói khi nước lên, thuyền nhỏ có thể đi qua, bên trong có thạch nhũ và dơi. Nhưng nếu mưa lớn, nước chảy xiết, không nên vào.”
Nhật Nguyệt nhìn bản đồ, mắt sáng lên.
“Ta từng đọc về nơi này. Trường Yên Phủ có núi đá dựng giữa sông, lau trắng ven bờ, thuyền đi qua hang động, buổi chiều chim bay thành đàn. Nếu có thể tận mắt xem…”
Nàng nói đến đó, giọng nhẹ đi. Sở Tĩnh Hàn nhìn nàng.
Hắn thích nhìn nàng khi nàng nói về địa chí, lịch sử, sông núi. Lúc ấy, Hoàng Nhật Nguyệt không còn là tiểu thư khuê các, cũng không chỉ là người mang thần tích Thủy Tiên Thánh Mẫu. Nàng giống một linh hồn từng đi rất xa, đem theo sự tò mò và lòng yêu mến đối với mọi thứ cổ xưa, huyền linh, sông nước, đất trời. Sở Viên nhìn Hoàng Nhã Nhã:
“Nếu Hoàng đại tiểu thư thích vẽ, Trường Yên Phủ hẳn có nhiều cảnh đáng vẽ. Ta nghe nói lúc sương sớm, núi soi xuống nước như tranh thủy mặc. Nếu nàng muốn, ta chuẩn bị giấy tốt, màu khoáng và một chiếc bàn gấp nhỏ để đặt trên thuyền.”
Hoàng Nhã Nhã hơi ngẩn.
“Đại Vương Gia chuẩn bị cả bàn vẽ?”
Sở Viên cười:
“Ta đã từng thấy nàng vẽ giữa sân trúc. Khi ấy nghĩ, nếu một ngày được thấy nàng vẽ núi sông ngoài kinh thành, hẳn rất đẹp.”
Câu nói này không còn là đùa. Nó chân thành đến mức Hoàng Nhã Nhã không thể lập tức đáp lại bằng lễ nghi. Nàng cụp mắt nhìn bản đồ.
“Đa tạ. Nếu thật sự đi, có bàn vẽ cũng tiện.”
Sở Viên lập tức cười.
“Vậy ta chuẩn bị.”
Sở Gia Huy nhìn đại ca, nhỏ giọng nói với Hạ Thiên Băng:
“Đại ca ta hiện tại thật sự không còn thuốc chữa.”
Hạ Thiên Băng cắn bánh, nhìn hắn:
“Huynh thì có chắc còn thuốc không?”
Sở Gia Huy im một nhịp. Sở Trọng Duy bình tĩnh rót trà.
“Thuốc đã hết từ lâu.”
Cả Hạ Thiên Băng và Nhật Nguyệt đều bật cười. Sở Gia Huy nhìn Bát đệ, bất lực:
“Ngươi ngày càng giống Kiều Trang mỹ nhân.”
Kiều Trang từ sau rèm bước vào đúng lúc, phe phẩy quạt.
“Ai giống ta?”
Sở Gia Huy lập tức mỉm cười:
“Ta nói Bát đệ ngày càng thông minh.”
Kiều Trang liếc hắn:
“Miệng Ngũ Vương Gia đúng là còn trơn hơn cá chạch trong trò rối nước.”
Hạ Thiên Băng cười đến mức suýt làm rơi bánh.
Cuối cùng, mọi người thống nhất: ba tháng sau, khi chính vụ tạm yên, sẽ xuất phát đi Trường Yên Phủ bằng đường thủy. Nhóm đi gồm Sở Tĩnh Hàn, Sở Gia Huy, Sở Trọng Duy, Sở Viên, Hoàng Nhật Nguyệt, Hoàng Nhã Nhã và Hạ Thiên Băng. Kiều Trang sẽ hỗ trợ chuẩn bị tin tức đường đi, nhưng nàng còn bận Vũ Mộng Lâu nên chưa chắc đi cùng. Hộ vệ sẽ theo xa, không làm chuyến du ngoạn mất vẻ tự tại. Tử Hàn Diệp nghe xong, thở dài:
“Ta cũng muốn đi Trường Yên Phủ, nhưng ta đã hẹn một vị đạo sĩ ở phía Bắc xem hang có tiếng đàn trong mưa.”
Hạ Thiên Băng chống cằm:
“Ngươi đúng là gió, bắt không được.”
Tử Hàn Diệp cười:
“Giang hồ rộng quá, chân ta tự chạy.”
Nhật Nguyệt nhìn hắn:
“Sở Vy sẽ buồn.”
Nụ cười hắn khựng một chút. Hắn nhìn túi du ký đặt bên cạnh.
“Ta sẽ viết thư cho nàng nhiều hơn.”
Sở Tĩnh Hàn nhấp trà, không nói. Người trẻ thường nghĩ viết thư có thể bù cho khoảng cách. Nhưng đôi khi, thư càng nhiều, lòng người càng sâu; khoảng cách vẫn là khoảng cách. Tử Hàn Diệp từ biệt mọi người vào cuối buổi. Trước khi đi, hắn đứng ở cửa Vũ Mộng Lâu, quay đầu cười:
“Lần sau gặp, ta sẽ kể chuyện hang đàn trong mưa. Nếu ta gặp yêu quái, ta sẽ chạy trước rồi viết lại cho sinh động.”
Sở Gia Huy nói:
“Ngươi ít nhất nên đánh trước khi chạy.”
“Ta sẽ cân nhắc tùy độ xấu xa của yêu quái.”
Hắn vẫy tay, rồi hòa vào dòng người Đông Kinh. Áo hắn mang bụi đường. Mắt hắn mang gió xa. Không ai giữ hắn.
Có những người sinh ra để rong ruổi, nếu buộc họ dừng lại, ánh sáng trong mắt họ sẽ tắt. Chỉ là phía sau họ, luôn có người đợi thư, đợi tiếng bước chân, đợi ngày gió quay về.
________________________________________
HỒI II: PHỤNG CHIẾU KIM LẦU
Thế nhưng, bánh xe vận mệnh chưa bao giờ để cho họ có thời gian ngơi nghỉ. Buổi tụ họp kết thúc chưa được hai ngày, từ trong hoàng cung Đại Sở, những cỗ xe ngựa mang theo thánh chỉ và thiệp mời bọc gấm vàng đã rầm rộ tỏa đi khắp các vương phủ, phủ đệ của quan lại từ ngũ phẩm trở lên, cùng các phủ đệ thế gia có nữ quyến được phép vào dự yến. Thiệp màu đỏ sẫm, viền vàng, đóng ấn Nội thị tỉnh và Lễ Bộ.
Nội dung rất rõ ràng: sứ thần Lãnh Quốc Nguyên Triều đã đến Đông Kinh, mang quốc thư cầu hòa và lễ vật hữu nghị. Quan gia thiết yến ba ngày trong Hoàng cung, nghênh đón sứ đoàn, cùng bàn chuyện giao hảo hai nước. Tin ấy vừa truyền ra, Đông Kinh lập tức nổi sóng ngầm.
Lãnh Quốc Nguyên Triều là quốc gia phía Bắc, khí hậu lạnh, binh mã mạnh, từng nhiều lần có tranh chấp biên giới với Đại Sở. Mấy năm gần đây, nội bộ Nguyên Triều cũng không yên, vài lần bị thảo nguyên phía xa quấy nhiễu, nên chủ động cầu hòa với Đại Sở là điều có thể hiểu. Nhưng lần này, ngoài quốc thư và lễ vật, họ còn đem theo Ngũ Công Chúa Vũ Ngọc Đình Nhi và Quận Chúa Mạc Tử Linh.
Chỉ cần nghe đến hai chữ “công chúa” và “quận chúa”, ai cũng hiểu ý sâu bên trong. Hòa thân. Dùng hôn sự để buộc hai triều có thêm một sợi dây ngoài quốc thư.
Trong Càn Thọ Điện, Sở Cuồng ngồi trước án, nhìn danh sách sứ đoàn do Lễ Bộ dâng lên. Ánh đèn chiếu lên gương mặt trẻ tuổi nhưng đã có uy nghi của hắn.
Hắn năm nay hai mươi bốn tuổi, lên ngôi từ năm mười sáu. Tám năm làm vua đủ để một thiếu niên bị đẩy lên ngai vàng học được cách giấu cảm xúc sau long bào. Nhưng khi nhìn đến dòng chữ “Ngũ Công Chúa Vũ Ngọc Đình Nhi, Quận Chúa Mạc Tử Linh”, bàn tay hắn vẫn siết lại.
Từ công công đứng bên cạnh, không dám thở mạnh. Sở Cuồng biết chuyện hòa thân là quốc sự.
Hắn không phải hôn quân chỉ vì một người trong lòng mà vứt bỏ biên cương. Đại Sở cần thời gian chỉnh quân, cần yên ổn thương lộ, cần quan sát động thái Nguyên Triều. Một cuộc hòa thân không nhất định đảm bảo hòa bình lâu dài, nhưng ít nhất trong mắt bá quan, đó là thiện ý cần được tiếp nhận. Nhưng trái tim hắn đã có người. Có Hoàng Nhật Nguyệt.
Cô bé từng chạy theo hắn bên hồ sen năm xưa, thiếu nữ hiện tại cười dưới ánh hoa đăng, người mà hắn yêu suốt năm tháng thanh mai trúc mã, lời yêu luôn nằm trên môi mà không dám thốt. Hắn chưa kịp nói với nàng. Chưa kịp để nàng nhìn hắn như một nam nhân.
Vậy mà trước khi hắn kịp làm gì, hậu cung của hắn đã phải mở cửa đón nữ nhân nước khác. Sở Cuồng nhắm mắt. Trong lòng có thứ gì đó nghẹn lại. Từ công công khẽ gọi:
“Quan gia?”
Sở Cuồng mở mắt.
“Chuẩn bị theo lễ nghi cung đình. Thiết yến ba ngày, không được thất lễ trước sứ thần.”
Giọng hắn bình tĩnh. Bình tĩnh đến mức Từ công công thấy đau lòng.
“Vâng.”
Sau khi Từ công công lui, Sở Cuồng đứng dậy đi đến cửa sổ. Ngoài Càn Thọ Điện, hồ Thanh Liên lặng dưới ánh trăng. Gió đêm thổi qua, hương sen rất nhạt. Hắn bỗng nhớ Hoàng Nhật Nguyệt từng nói, nàng thích hoa sen vì sen mọc trong bùn nhưng không hôi tanh mùi bùn. Hắn cười khẽ.
“Nguyệt Nhi…”
Tên nàng tan trong đêm. Một vị Hoàng đế có thể giữ giang sơn, có thể ban thưởng, có thể phong phi, có thể khiến trăm quan quỳ lạy. Nhưng lại không thể tùy tiện giữ lấy trái tim một cô nương.
________________________________________
Ngày yến thứ nhất, Hoàng cung rực sáng từ giờ Thân.
Ngọ Môn mở rộng. Hai hàng cấm vệ mặc giáp đứng dọc lối vào, mũ trụ sáng lạnh dưới ánh chiều. Từ Ngọ Môn vào Điện Kính Thiên, sân gạch được quét sạch, cờ lệnh treo hai bên, đèn cung đình thắp bằng dầu thơm tỏa ánh vàng. Trên các hồ sen nhỏ, cung nữ thả vài chiếc đèn nổi hình hoa trắng để mặt nước không quá tối khi đêm xuống.
Yến được đặt ở đại điện phía sau Điện Kính Thiên, nơi chuyên dùng tiếp sứ thần. Giữa chính điện, những chiếc cột gỗ lim sơn son thếp vàng khổng lồ, đường kính hai người ôm không xuể, chạm khắc hình rồng uốn lượn trong mây bừng sáng dưới ánh sáng của hàng ngàn ngọn nến thơm làm từ sáp ong rừng. Trên trần điện, những bức rèm lụa màu vàng mỡ gà thả dài từ trên cao, khẽ đung đưa theo làn gió đêm, tạo nên một không gian vừa trang nghiêm vừa huyền ảo.
Bố cục vẫn mang sắc thái Đại Sở lấy cảm hứng thời Trần: Quan gia ngồi trên sập gụ trung tâm, phía sau là bình phong sơn son thếp vàng vẽ rồng mây và sóng nước. Bên phải cao hơn là vị trí của Đỗ Thái Hậu sau rèm châu mỏng, đủ để bà quan sát toàn điện nhưng vẫn giữ uy nghi nội cung. Hai bên điện trải chiếu lớn cho hoàng thân, vương gia, quan văn võ, sứ thần, thế gia. Bàn thấp bằng gỗ bóng được đặt theo hàng, trên bàn là chén men ngọc, đĩa men nâu, bình rượu cúc, đũa bạc trong dịp đại lễ.
Bá quan văn võ Đại Sở đều khoác lên mình những bộ triều phục chỉnh tề nhất. Quan văn mặc áo Giao Lĩnh tay rộng bằng lụa thô màu tía hoặc màu xanh chàm, đầu đội mũ Phốc Đầu vuông vắn. Quan võ mặc áo Viên Lĩnh nẹp da thuộc, ngực áo thêu hình hổ báo móng vuốt sắc nhọn, hông đeo ngọc bội vang lên những tiếng "đinh đương" thanh thú theo từng bước đi.
Món ăn dâng lên theo thứ tự: gỏi cá thượng hạng ăn cùng rau thơm và nước chấm gừng, chim sâm cầm hấp hạt sen, cá Anh Vũ nướng muối ớt, thịt nai nướng mật ong rừng và sả, canh bóng cá nấu nấm hương, đậu hũ hầm nấm tùng nhung, cơm gạo thơm, bánh dày nhỏ, chè ngọc thạch hạt sen nhãn lồng, cuối cùng là trà tước thiệt và quả ngọt. Theo tục lệ, các cung nữ liên tục dâng lên những cơi trầu têm cánh phượng khéo léo. Việc nhai trầu không chỉ là một thói quen đời sống, mà giữa buổi đại yến này, nó còn là một nghi thức giao tiếp văn hóa, thể hiện sự hiếu khách và tôn trọng đối phương của người Đại Sở.
Tiếng nhạc cung đình réo rắt vang lên từ đội nhạc công ngồi phía sau bức rèm tre. Tiếng đàn tranh thanh thoát như tiếng nước chảy qua khe đá, tiếng đàn tỳ bà trầm hùng như tiếng vó ngựa viễn chinh, hòa cùng tiếng trống mảnh nhịp nhàng tạo nên một khúc ca hào hùng nhưng không kém phần lãng mạn. Vũ công mặc áo lụa màu xanh, đỏ, vàng múa điệu mây nước, tay cầm dải lụa trắng, chân bước nhẹ trên nền gạch sáng.
Sứ đoàn Lãnh Quốc Nguyên Triều bước vào trong ánh mắt của bá quan.
Dẫn đầu là đại sứ thần Ô Lặc Đồ, một người đàn ông ngoài bốn mươi, dáng cao lớn, râu được tết gọn, mặc áo bào lông viền bạc, thắt lưng đeo ngọc lạnh màu xanh sẫm. Phía sau là các phó sứ, võ sĩ hộ tống, người dâng lễ vật. Họ đem đến da chồn trắng, ngựa Bắc khỏe, ngọc băng, hương liệu lạnh, dao ngắn khảm bạc, và một bức quốc thư viết bằng hai thứ chữ.
Nhưng mọi ánh mắt trong điện lại không tránh khỏi dừng trên hai nữ nhân đi sau sứ thần.
Ngũ Công Chúa Vũ Ngọc Đình Nhi mặc áo bào màu lam tuyết pha bạc, cổ áo viền lông trắng, tóc tết một phần theo kiểu Nguyên Triều, phần còn lại vấn cao, cài trâm ngọc xanh. Dung mạo nàng rất đẹp, đẹp sắc lạnh, mắt dài, môi đỏ, làn da trắng như tuyết đầu mùa. Nàng bước đi ung dung, không hề sợ ánh nhìn của triều thần Đại Sở. Trong sự kiêu hãnh ấy có giáo dưỡng của công chúa, cũng có sự tỉnh táo của người biết mình đến đây không chỉ để làm khách.
Bên cạnh nàng là Mạc Tử Linh. Quận Chúa trẻ tuổi hơn, mặc áo màu tím nhạt phủ sa trắng, tóc cài trâm bạc hình mây. Dung mạo không sắc lạnh bằng Vũ Ngọc Đình Nhi, nhưng mềm mại, đôi mắt ẩn dưới hàng mi dài có vẻ e dè mà tinh tế. Nàng đi sau công chúa nửa bước, rất biết vị trí của mình.
Hoàng Nhật Nguyệt ngồi phía dưới bên khu nữ quyến phủ Thượng Thư, cạnh Hoàng Nhã Nhã. Nàng nhìn hai nữ nhân kia bước vào, trong lòng không có ghen tuông, chỉ có sự tò mò và một chút cảm thán.
Công chúa hòa thân. Quận chúa hòa thân.
Ở sách sử, hai chữ ấy thường chỉ được ghi rất gọn: năm nào, nước nào, gả cho ai, phong tước gì. Nhưng mỗi người trong đó đều là một đời sống thật. Họ rời quê hương, rời mẫu thân, rời ngôn ngữ quen thuộc, bước vào cung điện xa lạ, trở thành quân cờ chính trị buộc giữa hai triều.
Nhật Nguyệt bỗng thấy lòng hơi nặng. Hoàng Nhã Nhã nghiêng mắt nhìn nàng.
“Muội đang nghĩ gì?”
Nhật Nguyệt khẽ đáp:
“Nghĩ rằng nữ nhân trong thời loạn rất dễ bị đặt lên bàn cờ.”
Nhã Nhã im lặng một thoáng. Rồi nàng rót cho muội muội một chén trà.
“Vậy càng phải học cách giữ mình tỉnh táo.”
Nhật Nguyệt nhận trà.
“Vâng.”
Ở hàng hoàng thân, Sở Tĩnh Hàn nhìn về phía nàng. Từ khi nàng vào điện, ánh mắt hắn đã không thể thật sự rời đi.
Hôm nay Nhật Nguyệt diện một bộ y phục Đối Khâm thượng hạng màu hồng đào, vạt áo thêu họa tiết chim hạc tung cánh giữa những đám mây ngũ sắc bằng chỉ vàng tinh xảo. Chiếc áo giao lĩnh bên trong màu mỡ gà tôn lên làn da trắng ngần bẩm sinh và chiếc cổ cao thanh tú của nàng, tóc vấn cao hơn ngày thường, cài trâm vàng và hoa lụa nhỏ. Ánh đèn cung đình khiến gương mặt nàng như phủ một tầng sáng mềm, khác với vẻ hoạt bát dưới phố, cũng khác vẻ kiên định khi chiến đấu. Nàng ngồi giữa cung yến, lưng thẳng, cử chỉ đúng lễ, nhưng trong mắt vẫn có thứ linh động không bị cung quy làm tắt.
Hắn nhìn nàng nâng chén trà, nhìn nàng nghiêng đầu nghe Hoàng Nhã Nhã nói, nhìn nàng thỉnh thoảng đặt mắt lên vũ điệu giữa điện. Trái tim vốn vừa mới thức dậy trong hắn sau Hội Hoa Đăng nay như càng lúc càng không chịu nghe lời.
Sở Tĩnh Hàn từng có thể kiểm soát lửa, sét, không khí. Nhưng hắn phát hiện mình không điều khiển nổi ánh mắt hướng về nàng. Sở Cuồng ngồi trên sập cao, cũng nhìn thấy. Quan gia trẻ tuổi không để lộ gì.
Hắn nâng chén rượu, nghe sứ thần đọc quốc thư, mỉm cười đáp lễ, ban rượu cho sứ đoàn, thưởng cho vũ công, hỏi han vài câu về đường xa. Hắn làm tròn mọi lễ tiết của một Hoàng đế. Chỉ là mỗi khi ánh mắt lướt qua hàng nữ quyến, nó đều dừng rất nhẹ ở Hoàng Nhật Nguyệt.
Rồi lại nhìn thấy ánh mắt của Sở Tĩnh Hàn. Đêm yến thứ nhất cứ thế trôi qua trong vẻ ngoài hòa thuận. Không ai nhắc chuyện hòa thân.
Sứ thần chỉ nói về hữu nghị, về thương lộ, về biên giới yên ổn, về ngựa Bắc và lụa Đại Sở. Sở Cuồng cũng chỉ đáp bằng quốc lễ, ban thưởng, mời rượu, xem múa. Bá quan biết chuyện chính sẽ không nói ngay trong đêm đầu, nên cũng giữ vẻ tươi cười.
Nhưng ai cũng hiểu. Sóng lớn thường nổi sau đêm yên.
Ngồi ở hàng ghế đối diện, Tứ Vương Gia Sở Tranh sừng sững như một vị thần cô độc. Ánh mắt hắn không hề nhìn vào sàn vũ đạo nơi các vũ nữ đang múa điệu "Phượng Vũ Chốn Cung Đình", mà hoàn toàn dán chặt vào bóng dáng của Đặng Anh Phi đang ngồi khép nép ở góc hàng ghế dành cho thân quyến quan lại Hàn Lâm viện.
Đặng Anh Phi đêm nay mặc chiếc áo Giao Lĩnh màu xanh xám, trang phục giản dị đến mức khắc khổ giữa sự xa hoa của cung đình. Nàng cố cúi đầu thật thấp, đôi bàn tay gầy guộc siết chặt vào nhau. Sở Tranh nhìn thấy vậy, lồng ngực hắn quặn thắt lại. Hắn cầm ly rượu cúc lên, nốc cạn một hơi. Hắn hận không thể lao đến nắm lấy tay nàng, kéo nàng ra khỏi chốn hoàng cung đầy rẫy những ánh mắt dò xét, khinh miệt thân phận góa phụ của nàng.
Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!