Không Gian Chữ - Web Tạo Truyện Chữ Bằng AI
×
Không Gian Vạn Giới
Dùng 500 Mảnh Vỡ để triệu hồi Hệ Thống.
(Tỉ lệ Rank S - Màu Đỏ: 0.15%)
Chưa có HT
Kho Đồ
500
×
🎒 Kho Hệ Thống

Chọn 1 hệ thống để kích hoạt hoặc nhiều món cùng cấp để dung hợp.

Đang tải dữ liệu...
← Quay lại: Thiên Lộ Du Hành Ký

Chương 1: Thần thoại dữ lịch sử phát nguyên ư hà xứ? (Truyện bắt đầu từ chương 2)

🧾 Chương 1 🕒 03/09/2026 20:51 👁 22841 lượt xem
← Trước ☰ Sau →
Thế gian trần thế vốn dĩ vi diệu mà cũng thật vô thường. Có kẻ sống vì ước mơ, ôm giữ giấc mộng lớn lao, cũng có người hiện hữu chỉ để trả nghiệp, sống cùng khổ lụy trần gian. Ước mơ cao thượng sẽ thôi thúc nhân sinh tìm đến cuộc sống đáng trân trọng hơn, hướng con người về thiện niệm, về cái tâm thanh tịnh của chính mình. Đạo Phật lấy thiện làm gốc, tâm làm đường, dẫn con người về với bản thân tu tập mà giải nghiệp. Muốn thân tâm được vẹn nguyên, muốn đời sống được an nhiên và giải thoát, tất cả đều phải do tự thân vận động mà thành.

Điều mà người đời nay thường cầu khẩn Thần Phật tứ phương, phần lớn lại chỉ xuất phát từ lòng ích kỷ của bản thân. Họ chẳng nhận ra rằng, nhiều điều mình mong cầu vốn dĩ vô vọng và hư ảo. Thần Phật vốn không phải để ban ân, mà là tấm gương soi tâm, dẫn người trở về với chính đạo, với lòng từ và trí huệ. Khi khoa học và xã hội phát triển, đời sống vật chất thăng hoa, thì tinh thần lại dễ lụi tàn. Có những kẻ mê muội tin mù quáng vào thần linh mà lạc lối, khiến đạo tâm trở nên sai lệch. Cũng từ đó, ý nghĩa của chốn An Nhiên Đại Tâm Linh dần bị che mờ. Bởi thế, thế nhân ngày nay xa rời niềm tin vào nghiệp báo, tưởng rằng chỉ lý trí mới là cứu cánh.

Nhưng lịch sử đã chứng minh: qua ngàn năm thăng trầm, những gì là đức hạnh cao thượng dần bị lãng quên, trong khi những hủ tục lại nhiều phen tái sinh dưới dạng khác. Quá khứ, dù đã xa, vẫn là nền tảng của hiện tại và tương lai. Điều thiện là mầm viên mãn, điều ác là tấm gương phản chiếu bóng tối nội tâm. Nếu không hiểu được cái ác, sẽ chẳng thể thấu được cái thiện.

Vạn vật tương sinh tương khắc, ngã thiện và ngã quỷ đều là hai mặt của sự hoàn mỹ. Như lời trong Kinh Bát Nhã:

“Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị.”

Nếu tất cả đều là vô thường, vậy có gì thật đáng quý? Nhưng nếu chỉ dừng lại ở nhận thức vô thường, chẳng phải đời sẽ trở nên nhàm chán sao? Sống là để tu, để tìm ra viên mãn của riêng mình. Đời sống tinh thần và tín ngưỡng thần linh đã tồn tại qua muôn nghìn năm lịch sử – và chính lịch sử ấy vẫn đang được con người viết tiếp, bằng từng hơi thở của niềm tin, lòng từ, và trí huệ trong mỗi chúng ta.

Lịch sử là tấm gương của đạo tâm và đạo nghĩa. Con người sinh ra giữa trần gian, chẳng ai thoát khỏi khổ đau, nhưng trong khổ đau ấy lại chính là con đường để giác ngộ và tìm thấy chân lý. Nếu như đạo dạy người tu tâm hướng thiện, thì đất nước dạy người nhớ gốc nhớ nguồn, giữ trọn đạo làm dân, làm con của non sông. Thần Phật dạy ta buông bỏ, nhưng tổ tiên dạy ta giữ lấy – giữ lấy nghĩa khí, trung thành, và cội nguồn Lạc Hồng. Người đời nay dẫu có xa cách linh thiêng, dẫu lý trí làm mờ tín ngưỡng, thì trong huyết quản vẫn chảy dòng máu ngàn năm, vẫn có linh hồn đất Việt nằm yên nơi sâu thẳm.

Đạo giúp con người hướng thượng,
Sử giúp con người nhớ gốc.
Một bên là tâm linh – để ta hiểu nhân quả.
Một bên là dân tộc – để ta hiểu mình là ai.

Vì thế, khi nói về lòng người, về thiện niệm, ta chẳng thể quên linh hồn dân tộc, nơi kết tinh giữa thần thoại, lịch sử và máu lệ của tổ tiên. Từ hồn sông núi ấy, những lời thơ cất lên – như tiếng vọng từ nghìn năm vọng về hôm nay, nhắc ta nhớ mình là ai giữa dòng đời vô thường…

Nếu đã là người Việt Nam,
Ngàn năm lịch sử giang san hồng trần.
Nỗ lực chính là tự thân,
Thần linh hiện hữu, chiếm phần không to.
Phàm nhân chẳng thể đem so,
Nhưng để giữ nước cũng do dân lành.
Lòng người, vận nước mong manh,
Thời đẹp tới mấy, trời xanh vẫn tàn.
Bão giông trải khắp trần gian,
Lệ rơi, máu đổ, mấy ngàn năm qua.
Ai người đứng mãi mà ca,
Trời đâu mãi nắng, phong ba sẽ tàn.
Mưa rơi, giọt lệ oán than,
Phước, họa vốn là trời ban cho người,
Gian nan cũng chỉ một đời,
Mà lưu chính khí, ngàn lời chẳng phai.
Nhìn nay thời thế đổi thay,
Bắc phương dòm ngó, lòng này chẳng yên.
Tôi đây chẳng dám nhiều phiền,
Chỉ mong dân Việt giữ nguyên tổ tông.
Truyền truyền một rõ mênh mông,
Mà bao trang sử hóa không nhạt dần.
Tiếc thay sử Việt bao lần,
Anh hùng thần thoại hóa thân mây trời.
Đất Rồng đâu phải một thời,
Trống đồng im tiếng, bụi đời phủ rêu.
Tôi nay đứng giữa buổi chiều,
Trông non nước cũ mà xiêu cõi lòng.
Sử thi còn mấy trang ròng,
Thần thoại thất lạc, đau lòng biết bao.
Tiếc thay dân tộc anh hào,
Mà quên mất gốc, quên bao huyễn huyền.
Tiếc cho văn hiến ngàn niên,
Như sao rụng mất giữa miền hư không.
Nếu ai giữ được tấm lòng,
Xin chép lại sử, khơi dòng tổ tông.
Để mai con cháu vun trồng,
Thần linh đất Việt oai phong giữa đời.
Con cháu tộc Việt khắp nơi,
Mãi ghi chí nghĩa, giữ lời giang san.
Nước ta thuở trước Hồng Bàng,
Về sau dựng nước, ngàn vàng Việt Nam.
Lộc Tục là vua nước Nam,
Hiệu xưng Dương Vương, nối dòng chữ Kinh.
Truyền đời mãi đến chúng mình,
Một lòng giữ nghĩa, chữ Kinh Lạc Hồng.
Xưa kia bờ cõi mênh mông,
Bắc giáp Dương Tử, nam cùng Hồ Tôn.
Tây Ba Thục, đông Nam Hải,
Tứ phương tiếp giáp, bốn bề trị yên.
Kinh Dương Vương chốn dòng tiên,
Vốn cháu ba đời của miền Thần Nông.
Tự thân lập nước có công,
Quốc danh Xích Quỷ, mênh mông cõi người.
Trị dân ở khắp muôn nơi,
Động Đình Long Nữ một thời phu thê.
Sanh hạ Long Quân liền kề,
Thay cha giữ nước, coi bề trị dân.
Long Quân Hiền Thánh Chân Quân,
Dẹp yên nghiệt quái, thương dân muôn phần.
Dân ta tôn gọi phụ thân,
Khi nguy cậy nhờ, lòng dân thuở sơ.
Kết duyên cùng nàng Âu Cơ,
Sinh ra trăm trứng, nở trăm anh hùng.
Sau này mỗi người một vùng,
Năm mươi cùng mẹ, năm mười cùng cha.
Bên núi, bên bể uy nga,
Xưng vương tại đất, cùng cha trị vì.
Hùng Vương con cả lên khi,
Mồng mười tháng ba, đến thì trả ơn.
Văn Lang quốc hiệu giang sơn,
Mười tám đời vua, nhân dân an hòa.
Xưa kia Thánh Gióng thế gia,
Tuổi thì ngót nghét sang ba mấy mùa.
Vậy mà tuổi trẻ như mưa,
Quét tan giặc dữ, cưỡi mây về trời.
Dân ta ghi nhớ muôn đời,
Lập đền tôn kính, ngợi người anh linh.
Thần Thoại sử sách còn in,
Trẻ con làng Gióng giữ gìn non sông.
Lặng lẽ ba cõi mà trông,
Trời xanh mây ngả, lạ trông tám đường.
Cứ thế tới thời Duệ Vương,
Tiên Dung du ngoạn tứ phương đất tổ.
Lại gặp Đồng Tử khôi ngô,
Duyên lành se thắm, kết đôi vợ chồng.
Vua cha nghe chuyện bất đồng,
Đành không chấp nhận mối nồng thế gian.
Đôi người từ biệt cung vàng,
Mà ngao du khắp giang san hồng trần.
Gặp tu sư, đức muôn phần,
Tặng cho bảo vật, giúp dân muôn đời.
Dân gian lại kể một lời:
Ông Chử chính thể tổ thời nghề thương.
Tấm lòng nhân nghĩa noi gương,
Giúp dân trồng trọt, mở đường giao thương.
Người đời có sợ mây sương,
Ai đương vĩnh cửu, hiền lương thất lưu?
Thuở xưa có chuyện làm mưu,
Sơn Tinh trên núi, hạ lưu Thủy Tinh.
Đều là tuấn kiệt anh linh,
Khi vua kén rể, tranh tình giai nhân.
Mị Nương tiên nữ hồng trần,
Tuổi xuân cập bến, nên thân tìm chàng .
Hai thần nghe thế liền sang,
Vua cha trông thấy ngang hàng lẫn nhau.
Liền ra sính lễ làm câu,
Là kê, tượng, mã hiểm sâu dựng dàn.
Thủy tinh sẽ thấy gian nan,
Mỗi loài chữ cửu, cơ hàn thấy nao.
Kê thì trảo, mã hồng mao,
Tượng tất cửu ngà, gian lao lẻ ba.
Thủy Tinh chẳng thể kiêu sa,
Bởi do lễ vật khó mà sắm đâu.
Sơn Tinh nhanh nhẹn công đầu,
Mang dâng sính lễ, nên cầu Mị Nương.
Thủy Tinh đến chậm muộn đường,
Giận căm dâng nước, nổi cơn cuồng hờn.
Sơn Tinh dời núi ngăn sông,
Mỗi năm lũ dữ vẫn không ngớt hoài.
Dân gian kể chuyện truyền đời,
Nhớ công Sơn Tinh giúp người an cư.
Phận người vốn chẳng riêng tư,
Giang san vốn vững hóa hư mịt mùng
Thục Phán nối tiếp Vua Hùng,
Thay ngài mà trị, tận trung sơn hà.
Ông xây thành ốc Cổ Loa,
Mình thân xoắn ốc giữ nhà giang san.
Chuyện kể xây thành gian nan,
Mấy cô tiên nữ hạ phàm giúp xây.
Thế mà có kẻ bủa vây,
Lại thêm có kẻ phá thành loạn dân.
Nước đang chống giặc ngoại xâm,
Thục Phán bèn khấn cầu thần Kim Quy.
Kim Quy vốn sứ Long Quân,
Nghe lệnh mà xuống cứu dân báo lời.
Rùa rằng: thành dễ mà thôi,
Chỉ e Bạch Kê phá đời loạn dân.
Nay ta trợ giúp một lần,
Chỉ cho phương pháp, cứu dân cứu nhà.
Huyền Thiên Trấn Vũ giáng hạ,
Ra tay diệt quái, an hòa nhân dân.
Kim Quy việc xong mới phân,
Trao cho móng vuốt, tạo muôn Nỏ Thần.
Tên bay xuyên phá muôn quân,
Uy linh dệt tiếng Nỏ Thần sử xanh.
Bởi thế quân Triệu tan tành,
Kinh hồn khiếp vía chẳng đành xâm sang.
Mưu sâu Trọng Thủy khôn ngoan,
Lén xem nỏ thần, phá tan phép linh.
Lạ thay Thần Nỏ mất hình,
Cơ đồ đổ nát, bóng tình còn đau.
Mỵ Châu ngây dại trước sau,
Tiết lộ bảo khí, mất màu non sông.
An Dương Vương chạy một dòng,
Kim Quy chỉ lối, lộn vòng biển khơi.
Ngàn năm sóng đánh tả tơi,
Cổ Loa gạch cũ, mây trời phủ rêu.
Nỏ Thần hóa chuyện huyền phiêu,
Chuyện xưa nhắn gửi bao điều nhân gian.
Âu Lạc giờ cũng tang hoang,
Triệu Đà cứ thế đàng hoàng lên ngôi.
Đổi triều thì vẫn ổn thôi,
Quốc danh Nam Việt, trau dồi nhân dân.
Triệu Đà đích thực hiền quân,
Coi bề trị nước đếm xuân năm đời.
Xưa kia các vị đương thời,
Ghi vào chính sử chẳng lời tranh phân.
Nguyễn Trãi, Chí Minh có phần,
Cùng chung một lẽ, chẳng cần nghĩ suy.
Nhưng nay thời thế cũng tùy,
Đề cao gốc tích, chung quy nước nhà.
Xưng vua vốn phải gốc ta,
Đâu nào thể phải phương xa tới nhà.
Quân Tàu áp bức dân ta,
Ngàn năm nô lệ xót xa giống nòi.
Lòng dân uất hận ngút trời,
Thề không khuất phục, một đời tôi ngươi.
Bởi thế tới năm bốn mươi,
Hai bà dũng sĩ ra đời cứu dân.
Nữ nhi tuổi còn thanh tân,
Khoác bào nữ tướng, dấy quân diệt thù.
Oai linh sánh bậc trượng phu,
Phất cờ khởi nghĩa, thiên thu rạng ngời.
Cưỡi voi tiến bước giữa trời,
Giành non sông cũ, rạng đời Lạc Hồng.
Ngàn năm ghi tạc sử đồng,
Hai bà muôn thuở anh hùng Việt Nam.
Thấy người oai dũng mà ham,
Trời Nam khi ấy sắc lam mênh mông.
Cửu Chân ghi dấu sử hùng,
Triệu Ẩu tuổi trẻ ghi cùng trời xanh.
Khởi binh dậy sóng tung hoành,
Một lòng cứu nước, chí gan quật cường.
Phụ nữ Nam thật phi thường,
Dẹp binh giữ nước, làm gương muôn đời.
Xưa kia đánh giặc tơi bời,
Nay ta giữ nước, rạng ngời giống tiên.
Chiến tranh lại cứ triền miên,
Những người trong cuộc muốn yên cõi lòng.
Kể ra mới thấy lạ lùng,
Tự trong gốc Việt anh hùng tự sinh.
Đâu cần thần thánh hiển linh,
Dân ta cũng đủ dựng hình sơn khê.
Lịch sử cũng đã chứng thề,
Thần linh vẫn có, lòng quê vẫn bền.
Tự thân ắt vẫn làm nên,
Dẫu thân khiếm khuyết, tạc tên giữa trời.
Kể ra sáu trăm năm giời,
Lại sinh một bậc anh tài xưng vương.
Lý Bôn cầm kiếm lên đường,
Văn chương, võ lược phi thường khôn ai.
Đập tan giặc Bắc ra ngoài,
Vạn Xuân mới thịnh một thời vẻ vang.
Sáu mươi năm giữ giang san,
Rồi trông cũng phải héo tàn như hoa.
Mấy năm vạn sự cũng qua,
Những đêm trăng sáng lại thoa một màu.
Nước ta lại trong tay Tàu,
Ông Mai Hắc Đế đánh Tàu giúp dân.
Nhưng dân đoàn kết chưa sâu,
Ông Mai Hắc Đế thua sau mấy lần.
Mấy anh tài quyết xung thân,
Dẫu thắng hay bại một lần chẳng phai.
Trải qua mấy trăm năm dài,
Nô lệ phương Bắc u hoài đắng cay.
Ngô Quyền xuất hiện một ngày,
Đánh tan giặc Bắc, dẹp bầy xâm lăng.
Bạch Đằng thủy chiến lẫy lừng,
Tung gươm rạch sóng, vang rừng sử xanh.
Ngàn năm nô lệ tan tành,
Từ nay dân Việt tự dành non sông.
Ngô Vương chí lớn vô song,
Mở thời độc lập, khơi dòng vạn xuân.
Người như bậc thánh, bậc nhân,
Ngàn năm sử Việt muôn phần ngợi ca.
Sử ghi nào phải ba hoa,
Chỉ là thêm tạc, giao thoa với thần.
Đến thời mười hai sứ quân,
Gươm đao khói lửa dân tình lầm than.
Hoa Lư xuất hiện Tiên Hoàng,
Thuở còn chăn trâu, cờ lau tập trận.
Anh hùng phất cờ vẻ vang,
Dẹp yên loạn lạc vững vàng non sông.
Lên ngôi thiên tử oai hùng,
Lập lên triều đại phục tùng họ Đinh.
Tính khí chính trực quang minh,
Một lòng vì nước, bóng hình giang san.
Nhớ xưa chuyện thuở Hồng Bàng,
Có con yêu quái làm càn, hại dân.
Cho dù đến cả Long Quân,
Cũng đành phong ấn, yên dân muôn phần.
Thời Đinh mới rõ cao nhân,
Lần theo mà diệt giả thần Mộc Tinh.
Nhưng mà thế sự khó qua,
Đến vua Phế Đế nước nhà suy vi.
Khi vua Đại Hành lên ngôi,
Giặc phương Bắc vốn chẳng nguôi tham tàn.
Dòm ngó đất Việt giang san,
Nhăm nhe xâm chiếm, mở màn chiến tranh.
Đại Hành phò tá Đinh anh,
Gánh vai trọng trách cơ doanh đương thì.
Bởi thế mới phải trị vì,
Đánh tan giặc Tống, đánh lui Chiêm Thành.
Triều đại ngắn ngủi mỏng manh,
Công lao rạng rỡ, rồi thành dở dang.
Lại thời chuyển hóa giang san,
Từ Phật ra đạo, nhân gian an bài.
Công Uẩn quả thật anh tài,
Dựng lên triều Lý trải dài chín vua.
Thần Long hạ xuống chơi đùa,
Du ngoạn Đại La thần vua trông thành.
Gặp được long tử vây quanh,
Bởi duyên nên mới rời thành, rời đô.
Thiên niên kỷ mới điểm tô,
Thăng Long địa thế cơ đồ vững thay.
Đến được Thăng Long cũng may,
Ai đâu tứ phương đắm say kinh kỳ?
Bốn phương tứ trấn uy nghi,
Đông Long Đỗ trấn hộ vì dân an.
Tây Linh Lang ngự không gian,
Nam có Vũ Lâm, sơn san vững bền.
Bắc Huyền Thiên Trấn Vũ thiêng,
Trừ ma diệt quái, giữ yên cõi này.
Tứ thần trấn điểm trời mây,
Thăng Long thịnh trị, sum vầy muôn dân.
Công Uẩn là bậc thánh nhân,
Tìm nơi địa thế, đạo thần an bài.
Thái Tổ quả xứng chữ tài,
Xuất thân cửa Phật, đạo tài khó qua.
Mở mang bờ cõi nước nhà,
Đắp đê dựng nước, giữ nhà cho dân.
Triều Lý có vị hiền thần,
Đánh tan giặc Tống, dẹp quân tức thời.
Thường Kiệt tiếng để muôn đời,
Ung – Khâm – Liêm châu tơi bời khói xanh.
Chinh phạt cả đất Chiêm Thành,
Thanh danh lừng lẫy, vang danh nước nhà.
Ông từng hù dọa gian tà,
Qua bộ Nam Quốc Sơn Hà có ghi.
Quân giặc thì có cớ gì?
Kẻ ở phương Bắc, người thì phương Nam.
Đại Việt có đế vương Nam,
Đất này có chủ, ai cam xâm lầm?
Thiên thư đã định ngàn năm,
Cớ gì xâm phạm, ắt lầm chiến chinh.
Lời thơ sấm động uy linh,
Ngàn thu rạng rỡ, quang vinh đất trời.
Tuổi già đã ập tới nơi,
Mà lòng yêu nước trung thành khó phai.
Trời cao vốn đã an bài,
Yêu ma hiện thế trải dài mênh mông.
Tới thời vua Lý Thánh Tông,
Hồ ly tác quái ven sông-Nhị Hà.
Dân chúng khổ lắm kêu ca,
Cầu xin Long Đỗ diệt tà cứu dân.
Nghe lời Long Đỗ ân cần,
Bày cho kế lạ, giúp dân trừ tà.
Huyền Thiên Trấn Vũ cũng ra,
Ra tay trừ diệt yêu ma hồ tinh.
Trấn Vũ sức mạnh vô hình,
Thần oai lẫm liệt, khó sinh sánh bì.
Trừ yêu diệt quái thần kỳ,
Hùng Vương thứ bảy, bài trừ Thạch Linh.
Mười bốn thì trừ rùa tinh,
Đại yêu kê tinh, hồ tinh cũng phần.
Nhà Lý truyền được chín lần,
Hai trăm mười sáu năm dần mới tan.
Nhà Trần lại trị giang san,
Trong yên ngoài vững, vẻ vang lưu truyền.
Có ông Thủ Độ nắm quyền,
Nhắm tới Trần Cảnh se duyên Chiêu Hoàng.
Vì vua là nữ đàng hoàng,
Nhường chồng xưng đế, cởi choàng hậu thôi.
Mông lung ở chỗ nối ngôi,
Thủ Độ e ngại thần tôi ở đời.
Nhẫn tâm giết hại khắp nơi,
Tàn dư họ Lý khói hơi họa tồi.
Đổi vận cũng mấy năm giời,
Hoàng tử kế vị chơi vơi đến cùng.
Thủ Độ nhất quyết truy lùng,
Gả chị Chiêu Hoàng hợp cùng Thái Tông.
Chiêu Hoàng nhìn cảnh mà trông,
Thân làm công chúa, từ chồng đi tu.
Thái Tông chỉ thể lù lù,
Lên tận Yên Tử, đi tu bỏ triều.
Vua thì nhất quyết một điều,
Thủ Độ phá rừng bao nhiều lập đô.
Chúng sư kinh hãi cực độ,
Xin vua xuống núi, về đô lập triều.
Thế nên vua trở về kiệu,
Giang sơn nhà Trần có hiệu từ đây.
Cơ mà trông lại lạ thay,
Các vua nhà Trần mai này giống nhau .
Đi tu ngó trước ngó sau,
Phật môn hưng thịnh, khổ đau sắp tàn.
Ta Bà là cõi cực hàn,
Về sau mới có Phật Hoàng Nhân Tông.
Nói thì kể về Thánh Tông,
Sanh ra được định để trông giống nòi.
Ngoại giao tá phép trông coi,
Văn chương võ nghệ giỏi giang hơn người .
Chiêm tinh tử vi cũng mười,
Sao rơi biết trước, nhẹ cười mà tê.
Thân cơ khiến vạn người mê,
Trí tuệ sâu rộng, một thê một tình.
Mười tám thái tử thân chinh,
Đánh cho Mông Cổ thất kinh mấy lần.
Mười chín lên ngôi có thần,
Góp công không nhỏ vào phần nước ta.
Quân Nguyên mạnh mẽ thế mà,
Binh hùng tướng giỏi trải qua Á, Âu.
Tung hoành lấy nửa châu Âu,
Đánh đâu thắng đấy, chỉ cầu chúa thôi.
Cầu chúa chưa chắc bớt tồi,
Võ quân Mông Cổ bực rồi chiếm luôn.
Khí thế thì cả vạn quân,
Chiếm cả Cao Ly, lấy đi nước Tàu.
Nhăm nhe xuống nước ta sau,
Năm mươi vạn lính từ Tàu xuống ben.
Dân ta nào thể chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen thắng thù.
Ba lần đại thắng ngàn thu,
Khí thiêng sông núi chất tụ máu xương.
Ông cha trí dũng phi thường,
“Vườn không nhà trống” dặm đường khó cân.
Ông Trần Hưng Đạo cầm quân,
Mưu sâu, trí lớn phi thân dẹp Tàu.
Bạch Đằng sóng cuộn trước sau,
Nhân dân hợp lực cùng nhau đánh Tàu.
Sông sa trở ngại nước sâu,
Cọc nhọn ẩn dưới, thuyền Tàu vỡ đôi.
Hai lần đại phá Nguyên thôi,
Làm cho lũ giặc tơi bời mấy phen.
Binh sĩ ngàn năm vẫn khen,
Lời Hịch vang mãi, len chen trong đầu.
Vua Trần nghe kể hỏi, tâu:
Thần đây không phụ mấy câu của ngài!
Thấy Trần Quốc Toản có tài,
Có mười sáu tuổi ra oai chiến trường.
Tiền trận chưa thể lên đường,
Thiếu niên dũng khí, kiên cường bóp cam.
Làm người chẳng quản gian nan,
Chẳng ham lợi lộc, chỉ mang nghĩa lòng.
Ra quân dẹp loạn thù trong,
Tuổi trẻ anh dũng, cầu mong lời nguyện.
Mấy lần đại phá quân Nguyên,
Thành danh thành tướng, cầm quyền tận trung.
Quốc toản là đấng anh hùng,
Tuổi thì còn trẻ, giặc đùng tan tiêu .
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Dân thì thịnh vượng, thần triều hiền minh.
Có vị chí bậc anh linh,
Khiến cho quân giặc thất kinh mệt dòng.
Nhân Tông con của Thánh Tông,
Một lòng kính Phật, chí công chí hiền.
Xuất gia thành Phật hoàng tiên,
Bỏ ngai, rời cung triền miên sớm chiều.
Thánh Tông giận tỏ vài điều,
Nhân Tông đành phải tới chiều hồi cung.
Lên ngôi thần tử phục tùng,
Chỉ huy đánh trận lẫy lừng khắp nơi.
Chỉ e máu giặc tuôn rơi,
Quân ta phải dọn, hết thời về quê.
Nhân Tông có lời liền kề,
Tha cho Mông Cổ liền về Phật Tôn.
Tiễn đưa giặc Bắc sang hồn,
Rơi vào tay trẫm mất hồn khó siêu.
Triều Trần rồi cũng sẽ tiêu,
Bao điều dang dở, đổi triều nước nhà.
Nhà Hồ trị vì nước ta,
Giết vua tiềm vị, nước nhà thất niên.
Tình hình trong nước bất yên,
Tàu qua xâm chiếm nắm quyền mấy năm,
Bao nhiêu của cải nước Nam,
Chúng đã vơ vét mà mang về Tàu.
Quý Ly công trạng làm màu,
Tiền súng trước có về sau mới dùng.
Nhưng dân chẳng thể phục tùng,
Bởi nên Tàu đánh có vùng vẫn thua.
Lụy tàn cho một ông vua,
Thế mạnh tới mấy cũng thua người trần.
Có ông Lê Lợi vì dân,
Phất cờ khởi nghĩa, kết thân đồng lòng.
Lam Sơn vùng dậy phi thường,
Ban đầu thế yếu, khó đường giữ lâu.
Một phen Lê Lợi hiểm sâu ,
Tiên nữ trợ giúp, may cầu thoát nguy.
Quân tướng hết mực tận tụy,
Thần dân lo lắng an nguy của người.
Tiên nữ rạng rỡ mỉm cười,
Hình Tiên kì lạ nửa người, nửa yêu.
Tiên nhân tá phép phiêu diêu,
Phàm nhân cũng nguyện thắp diều giang san.
Đánh trận sông Nhị núi Lam,
Thuận Thiên Bảo Kiếm, Bắc Nam tung hoành.
Nhớ trước vị giúp xây thành,
Kim Quy hiện nghĩa dấu hành dấu tung.
Bèn chia bảo kiếm mỗi vùng,
Chuôi đem chài lưới, gươm dụng núi trông.
Khắc tên hai chữ nhà Rồng,
Đánh cho giặc Bắc xác chồng chất tăng.
Kìa Túy Động, nọ Chi Lăng,
Quân Minh chỉ thế, khó bằng thánh danh.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Dân ta đã thoát cái vành nguy nan.
Thế nên rồi lại kết đoàn,
Xây dựng cơ nghiệp ngàn vàng trăm năm.
Có lần Thái Tổ ghé thăm,
Long Quân đã dõi nghìn năm cũng mừng.
Thanh Giang sứ giả lẫy lừng,
Giờ đây mới hiện, đã từng thấy qua.
Kính vua cứ hãy an tọa,
Tôi trồi lên chẳng tâu họa gì đâu.
Long Quân cho gươm diệt Tàu,
Mười năm sự nghiệp đánh Tàu cũng xong.
Tôi xưa từng vốn qua sông,
Đem chuôi gươm giấu núi rồng ngàn năm.
Hôm nay tới đúng hồi nằm,
Xin vua hoàn kiếm tới rằm tôi thưa.
Lòng dân vốn dĩ ngàn xưa,
Quyết tâm dẹp loạn giông mưa nước nhà.
Lam Sơn khởi nghĩa thế gia,
Có ông Nguyễn Trãi thật là hiền minh.
Trí tài mưu sâu anh linh,
Giúp vua đánh giặc, thất kinh muôn lần.
Ba phần công lớn điều quân,
Thân mang chí lớn, lòng thân sáng ngời.
Tuyên ngôn vọng vang đất trời,
Khẳng định Nam quốc đời đời vững yên.
Lời văn từng chữ hiện lên,
Đạo trung hiếu kính dựng nền non sông.
Đảo điên giông tố, cuồng phong,
Một lòng son sắt với dòng cháu tiên.
Sự nghiệp trải dài thập niên,
Vua thương nhân thế từ miền biên cương.
Giúp vua trị quốc làm gương,
Dân no, nước mạnh, lên đường, tiến xa.
Than ôi giời nổi phong ba,
Oan tình vụ Lệ khiến nhà tang thương.
Thiên đạo tỏ rõ muôn đường,
Người trung cướp mất, tiếc thương một đằng.
Đời sau tìm gọi công bằng,
Công danh rực rỡ, đêm trăng thực hư.
Nguyễn Trãi là bậc nhân từ,
Cả đời vì nghĩa chẳng từ hiểm nguy.
Người tài lại có mấy khi,
Án oan ai thấu, so bì đại công?
Vua Hiền thì có Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi, rạng dòng Việt Nam.
Tư Thành vốn bậc kỳ nam,
Trị dân nhân hậu, an khang muôn phần.
Hồng Đức thịnh trị nhân dân,
Công minh chánh pháp, trung tận giang san.
Thánh Tông chẳng màng gian nan,
Ba mươi bảy năm trị an non sông.
Tiếng danh vang khắp trời Đông,
Dân yên nước thịnh, đức ông sáng ngời.
Ngàn sau hậu thế nhớ đời,
Từ nền Hồng Đức rạng ngời văn chương.
Triều thịnh cũng trăm dặm đường,
Làm sao trụ vững làn sương mây ngàn.
Trăm năm rồi cũng sẽ tàn,
Người đời còn thế, giang san chẳng lành.
Triều Lê một thuở rạng danh,
Mặc Đăng Dung lại hoành hành cướp ngôi.
Trong nước rối loạn không thôi,
Mặc Bắc, Lê Nam tách đôi sơn hà.
Triều tròn bảy chục năm qua,
Cuối đời mười sáu Mạc đã suy vi.
Kể từ đời ấy trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh trị vì khá lâu.
Nam Nguyễn, Bắc Trịnh đánh nhau,
Nước ta khi ấy mà đau đớn lòng.
Đều hai vị chúa con Long,
Cớ sao binh lửa, máu loang cõi trần.
Đành ra làm tội con dân,
Thời thế loạn lạc cùng bần chịu thôi.
Sông Gianh rạch nửa giang sơn,
Bắc Nam hai cõi, cũng hờn ghét nhau.
Lá cờ cũng đã rực màu,
Chân ngựa người binh, nhuộm máu non sông.
Miền Bắc chúa Trịnh oai phong,
Thăng Long đại thành, trống đồng vang ngân.
Miền Nam có những bước chân,
Phú Xuân nhà Nguyễn, nhân dân an lòng.
Bao năm chinh chiến long đong,
Chiến tranh tàn khốc, bão giông ngút trời.
Cùng chung cha, xa cách vời,
Một giải đất lành chia đôi đoạn đường.
Một trăm bốn tám năm trường,
Yên bình chẳng có, chỉ thường nghỉ tay.
Cũng may giặc ngoài chưa bày,
Nếu không, non nước chẳng ngày được yên.
Trịnh Nguyễn phân tranh đảo điên,
Một dải gấm vóc chia liền đôi ngang.
Vết sẹo ấy nào vinh quang,
Đó là tro bụi chứa chan nỗi lòng.
Phân tranh thế tục cho xong,
Dân ta an yên, chí công nhiệm màu.
Giang sơn chia cắt mà đau,
Phải chi một thể, cùng nhau vươn mình.
Bên Tàu Tam Quốc phân minh,
Trịnh-Nguyễn phân tranh bên mình chẳng hay?
Giá như dựng được phim này,
Cho con cháu biết một ngày chia ly...
Dẫu biết lòng cốt từ bi,
Ngàn năm áp bức lạ khi lặng im?
Dân ta chẳng chịu đắm chìm,
Dựng cờ khởi nghĩa, quyết tìm giang sơn.
Nổi lên ở vùng Tây Sơn,
Anh em Nguyễn Nhạc dấy cơn phong trào.
Quy Nhơn địa đô khơi mào,
Phá tan Trịnh, Nguyễn cứu bao dân lành.
Nhà Lê cũng mất quyền hành,
Ba trăm sáu chục năm truyền trị dân.
Nguyễn Huệ rực sáng như thần,
Xiêm, Tàu sang đánh mấy lần vẫn thua.
Quang Trung trí dũng có thừa,
Khi ra cầm quân, giặc vừa đã tan.
Đại quân hợp sức muôn vàn,
Đồng tâm giữ vững giang san nước nhà.
Tuy rằng thế giặc bao la,
Quyết không khuất phục mưu tà hiểm sâu.
Tây Sơn thế mạnh bấy lâu,
Cùng ông Nguyễn Huệ chính tà rõ phân.
Nhưng ta lại tiếc cho dân,
Tướng tài tới mấy khó qua luật trời.
Cơ nghiệp sau mấy năm giời,
Ông vua Nguyễn Huệ qua đời mất tăm.
Giá như thêm được ít năm,
Dân ta bớt khổ, chăm chăm dựng nhà.
Chuyện này đột ngột quá mà,
Nhân tài hiếm có vậy là đã đi.
Chỉ riêng Nguyễn Ánh cứ lì,
Bị Tây Sơn đuổi, lại đi cầu ngoài.
Biết mình đã chẳng có tài,
Mời Tây sang cứu, tìm bài giải vây.
Nước ta sắp mất rồi đây,
Cũng do ông Ánh rước Tây vào nhà.
Khác chi rắn cắn gà ta,
Miệng thì giả nghĩa, lòng là gian nhân.
Giặc tràn tới cướp từng phần,
Cậy Tây giúp sức, muôn phần ngu si.
Tính ra ông Ánh cũng kì,
Đặt ra tên nước tức thì Việt Nam.
Ở nơi mảnh đất trời ban,
Có ông danh nhân nước Nam rạng ngời.
Nguyễn Du sống trọn một đời,
Tấm lòng vì nước, vì người chẳng phai.
Cuộc đời bao nỗi đắng cay,
Từ Nam ra Bắc tháng ngày lang thang.
Truyện Kiều để lại tiếng vang,
Tài hoa tuyệt thế, muôn vàn ngợi ca.
Tôi nay đọc lại một pha,
Từng câu từng chữ chan hòa niềm thương.
Tài tình chẳng giữ được đường,
Hồng nhan bạc mệnh đoạn trường đắm say.
Ngẫm câu nhân thế đổi thay,
Cũng do chữ "mệnh" đắng cay phận người.
Văn chương như giọt lệ rơi,
Thấm vào đất Việt muôn đời còn thơm.
Nguyễn Du tiếng vọng cõi hồn,
Ngàn thu soi sáng trăng tròn nước non.
Ai người hiểu thấu tâm son,
Giữa dòng nhân thế vẫn còn đắng cay.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây dương lấn tới, thị phi rồi bời.
Vua quan chỉ biết rong chơi,
Ngồi nơi bóng mát, tưởng đời khôn ngoan.
Để rồi nước mất nhà tan,
Chỉ vì vua chúa, lũ quan ngu hèn.
Ngàn năm giữ nước đáng khen,
Thời nay vua Nguyễn kéo rèm rước Tây.
Tội kia càng chất càng đầy,
Sử xanh ghi tạc chẳng phai bóng tròn.
Tiết trung nghĩa khí sắt son,
Giang sơn xã tắc vẫn còn lòng dân.
Ba miền vốn dĩ người thân,
Cùng chung một nước, lòng dân một đường.
Hoàng Diệu cùng Nguyễn Chi Phương,
Giữ thành giữ nước, làm gương cho đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Tập binh khởi nghĩa khắp nơi lẫy lừng.
Miền Trung có Phan Đình Phùng,
Ra tay đánh giặc, thổi bùng lửa thiêng.
Lòng dân son sắt trung kiên,
Dù bao vây bức, vẫn truyền chí trai.
Đường đi hiểm trở chưa dài,
Cơ đồ chưa vững, nền đài còn non.
Bởi đâu vận nước hao mòn,
Khởi nghĩa hừng hực chẳng còn hồi sinh.
Ấy mà vẫn sáng trung trinh,
Cơn mưa năm ấy vẫn chưa hạ màn.
Tới năm một tám mấy ngàn,
Có nhà yêu nước sinh an giữa đời.
Vị ấy khí phách sáng ngời,
Hi sinh tuổi trẻ, quên thời bản thân.
Đi tìm lối cứu nhân dân,
Lăn lội năm châu, muồn phần gian lao.
Tên Người bí mật biết bao,
Đổi thay muôn nẻo, ai nào rõ sương.
Học thông mấy tiếng tứ phương,
Trí nhân, đức sáng soi gương sử vàng.
Ba mươi lặn lội gian nan,
Thân mình chẳng quản, lo toan nước nhà.
Lòng luôn đau đáu thiết tha,
Chỉ mong giành lại sơn hà tổ tông.
Khổ công chẳng nản bão giông,
Gian lao hun đúc anh hùng Việt Nam.
Một lần đến xứ Nga hoàng,
Có lần cách mạng huy hoàng tỏa ra.
Chàng trai ấy ngóng trông xa,
Đọc tờ cách mạng, lệ nhòa trong tim.
An Nam khổ lụy điêu linh,
Ngàn năm lửa nhỏ rung rinh não nùng.
Giọt mừng thấm tận trong lòng,
Tìm ra chân lý, mở vòng giải nguy.
Tấm lòng nhân ái từ bi,
Một bậc Bồ Tát giữa khi hồng trần.
Người đem ánh sáng cho dân,
Dựng xây gốc Việt muôn phần hiển vinh.
Dân ta phải biết sử mình,
Cho tường gốc tích nước Nam anh hùng.
Nhớ xưa Quốc Toản tận trung,
Bóp cam thề nguyện một lòng vì dân.
Người nay tiếp bước chẳng ngần,
Dẫu đi một bóng chẳng lần lui chân.
Nếu Pháp xâm lấn nước dân,
Thì ta phải đánh, xoay vần cơ đồ.
Nguyễn Ái Quốc rất đơn sơ,
Ngao du bốn bể, văn thơ chan hòa.
Nhớ khi Người bị đày xa,
Vẫn ghi nhật ký thiết tha cõi lòng.
Trong tù khổ lắm mà không,
Lời thơ vẫn sáng như đồng trăng soi.
“Nhật ký trong ngục” lưu hoài,
Ngọc trong gian khổ sáng ngời niềm tin.
Lúc ấy Pháp đã suy tàn,
Chẳng còn sức lực trị an dân mình.
Nhật Bản vừa mới quang binh,
Xâm lăng chưa kịp dựng hình cơ ngơi.
Thêm Tàu, Anh, Mỹ đến chơi,
Toan tính chia chác đất trời, trăng sao.
Bấy giờ đồng chí, đồng bào,
Cùng nhau hợp lực xiết bao nghĩa tình.
Giặc thì ít, chí ta vinh,
Vì dân vì nước, kết tình cộng tâm.
Cách mạng dậy khắp ba tầm,
Một nhà sum họp sen đầm nở hoa.
Mồng hai tháng chín nhớ ra,
Ba Đình rực rỡ, kiêu sa tung bay.
Tuyên ngôn vang vọng trời mây,
Lời thề khắc đá, dựng xây cơ đồ.
Bao người phiêu bạt thủ đô,
Về đây để biết cơ đồ ngàn năm.
Đường đi không còn xa xăm,
Độc lập, tự chủ, ngàn năm vững bền.
Lời thơ một chút mà thêm,
Nếu như không kể, sử tên không thành.
Năm ấy nạn đói hoành hành,
Cỏ cây thì trụi, lúa xanh thì tàn.
Người người mỗi chỗ lang thang,
Thân gầy đói rách, mà tan cõi lòng.
Con đường xác ngã chết chồng,
Nạn tàn đã thế, còn mong điều gì.
Thây ma gầy guộc lầm lì,
Bán vợ, đong thóc còn gì nữa đâu.
Tiếng khóc tiếng than nát nhàu,
Đồng tiền miếng cám còn đau hơn vàng.
Xót xa kiếp sống bẽ bàng,
Oan hồn vất vưởng, lệ tràn sông Thương.
Trăm năm còn vọng tiếng than,
Đêm đêm còn tiếng ai oán não nùng.
Màu rơm vàng, rạ lạnh lùng,
Hồn xưa phảng phất, bàng hoàng nỗi đau.
Sau ngày Độc Lập dựng cờ,
Dân ta tự chủ, bến bờ vươn lên.
Tây thì chẳng chịu buông yên,
Bốn phen đàm phán chẳng nên câu nào.
Lòng ta vốn dĩ dạt dào,
Giặc kia vẫn đốt lửa đào chẳng thôi.
Mười chín tháng Chạp ra đời,
Toàn dân kháng chiến, giữ lời non sông.
Việt Bắc bốn bảy rực hồng,
Biên giới năm mươi, chất chồng chiến công.
Đông xuân diệt giặc mịt mùng,
Mở ra tiền đề lẫy lừng Điện Biên.
Chấn động địa chấn khắp miền,
Năm châu bốn bể ngả nghiêng, bàng hoàng.
Nguyên Giáp chí lớn hiên ngang,
Trí dày mưu lược, vững vàng non sông.
Bác Hồ chọn mặt gửi lòng,
Đệ tử son sắt, một dòng nghĩa dân.
Điện Biên lừng lẫy vang ngân,
Hùng binh bách chiến, muôn dân rạng ngời.
Tiếng thơm trải khắp muôn nơi,
Ngàn năm lịch sử sáng ngời chí trung.
Tộc ta từ những bước chung,
Chí khí kết tụ, anh hùng ngàn năm.
Giơ-ne-vơ đã định rồi,
Giặc Mỹ hung hãn chẳng mời tới chơi.
Cớ sao đánh phá tơi bời,
Hai mươi năm máu xương đời nhớ ơn.
Những vị anh hùng vải sờn,
Một tay cầm súng, cuốc trơn bên này.
Ấp Bắc lửa đỏ bùng ngay,
Giặc Mỹ tan tác, chiến bầy nát tan.
Vạn Tường sáu nhăm hừng vang,
Cục bộ của Mỹ tan hoang khói mù.
Mậu Thân sáu tám chiến khu,
Giặc run khiếp vía, sương mù chẳng tan.
Mỹ, Ngụy kéo đánh sang Lào,
Nhăm nhe chặn lối đường vào của ta.
Nào ngỡ bại trận xót xa,
Quyết tâm giữ vững sơn hà Việt Nam.
Trận Điện Biên Phủ trên không,
Mười hai ngày đêm vô song ngút ngàn.
Mỹ thua chất chồng bẽ bàng,
Hiệp định Pa-ri buộc hàng cúi đau.
Nụ cười chưa kịp thấm sâu,
Bác đi, để lại nỗi sầu khôn nguôi.
Dặn lòng bước tiếp mà thôi,
Miền Nam giải phóng chưa ngồi được đâu.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Dân ta đã thể mà tâu với Người,
Người thì ở mãi trên đời,
Miền Nam thống nhất trời trao huy hoàng.
Nhân dân hai miền Bắc Nam,
Cùng nhau dựng lại giang san nước nhà.
Nào hay giặc mới tràn qua,
Khơ-me phản trắc, Tàu sa sóng ngầm.
Ngàn năm chí bại chẳng tầm,
Căm hờn xưa cũ, gieo mầm hiểm nguy.
Giặc Tàu chẳng sợ gối quỳ,
Giang san mới hợp, chung quy một nhà.
Bấy giờ khó bước tiến xa,
Là do kinh tế không đà tới xuân.
Dân ta nào sợ gian truân,
Tây Nam giữ nước, tiến quân đánh Tàu.
Dư âm phía Bắc trước sau,
Đến năm tám chín, việc Tàu mới yên.
Tám sáu mở lối đảo điên,
Thoát vòng bao cấp, khởi nguyên thịnh hưng.
Liên Xô cũng sắp tàn rồi,
Chín mốt sụp đổ, nào hồi được đâu.
Nước ta tới bốn năm sau,
Gia nhập liên đoàn, rạng màu biết bao.
Nhớ khi những lúc chiến hào,
Đòng lòng dân Việt, biết bao nhiệm màu.
Nhưng vẫn vật vả anh Tàu,
Nhìn trông nước Việt, đắm tàu biển Đông.
Dân ta chẳng thể ngồi trông,
Lười bò phi pháp, đừng hòng chạm can.
Ngàn năm vẫn thói tham lam,
Dã tâm chẳng đổi, mưu gian muôn đời.
Dân ta giữ trọn một lời:
Giàu dân, mạnh nước – muôn đời đồng tâm.
Lịch sử cũng đã chứng minh,
Một lòng vì nước, dân mình mới yên.
Chớ tham của cải, bạc tiền,
Chớ vì tửu sắc mà quên đạo trời.
Lạ thay cũng mấy cuộc thời,
Triều tàn nước mất, lệ rơi đoạn trường.
Để dân khắc cốt ghi xương,
Nước nhà nguy biến, vấn vương mấy ngàn.
Dân nghèo vẫn gánh cơ hàn,
Cán bộ ắt phải hạ màn nghe dân.
Nếu không lấy gốc từ nhân,
Tham lam, tham nhũng cũng đần cũng ngu.
Khéo rồi lại hóa họa tù,
Nhìn qua mới rõ người mù rạng hơn.
Bác Trọng đã nói hết trơn:
“Các anh cái gì, vết nhơn ở đời.
Không thì tôi có lời mời,
Cái lò tôi đốt cứ ngồi vào trong.
Nói thì anh đừng có mong,
Củi tươi còn cháy, khoan hồng với anh?
Đã sợ cớ gì lại tranh,
Tôi làm như vậy, vang danh Lạc Hồng.”
"Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên."
Bác Hồ đã cất lời trên,
Dân ta cần biết giữ bền đạo trung.
Nhớ xem lịch sử oai hùng,
Danh nhân đất Việt tôn sùng cứu dân.
Có vua, có bậc hiền thần,
Có người đáng trọng, kẻ cần trách thay.
Thủ Độ lưu tiếng đến nay,
Dựng triều nhà Trần, vững bày cơ đồ.
Tính ra cũng bậc anh mô,
Tuy vì lập nghiệp mà xô Lý gia.
Khi Mông Cổ tràn nước ta,
Thái Tông lo hỏi sơn hà thế nao.
Thủ Độ đáp một câu cao:
“Đầu thần còn đó, sợ sao giặc này.
Đầu thần rơi đất mới cay,
Còn thân trụ vững nước này chẳng nghiêng.”
Văn An – bậc chí khí hiền,
Người thầy mở lối khai truyền nẻo văn.
Lại bao anh kiện thành nhân,
Vung đao, múa kiếm, muôn phần tung bay.
Biết bao chiến sĩ từng ngày,
Hy sinh tuổi mộng chẳng hay riêng tình.
Đánh cho quân giặc thất kinh,
Hy sinh vì nghĩa tư tình dở dang.
Cứ để lòng mình chẳng than,
Khi dành độc lập mới an cái lòng.
Có những bà mẹ cam lòng,
Để con ra trận, xa vòng tay xưa.
Trải qua bao cơn giông mưa,
Bom rơi đạn nổ, chưa từng oán ai.
Có những người mẹ kì tài,
Mà gánh bộ đội qua đài, qua sông.
Có những chiến sĩ phòng không,
Bắn rơi lính Mỹ như bông lụa tàn.
Quân ta thì khỏi phải bàn,
Đàn bà con gái dệt màn giăng tơ.
Để cho lũ địch như mơ,
Giặc đâu cũng chịu cơ hàn ngàn năm.
Cho nên đừng có ghé thăm,
Mà đem súng cối, ném bom, ném mìn.
Không thì ở đó mà nhìn,
Rồi quân tiếp viện chẳng tìm thấy đâu.
Thêm cả nữ sĩ kim khâu,
Ngày đêm lặng lẽ trị khâu cho mình.
Kẻ dịch thì vẫn rập rình,
Còn cô áo trắng mặc mình cứu thương.
Nhìn trông ở khắp tứ phương,
Mà lòng đau đáu, con mương thật dài.
Nhìn địch ta cũng thấy hài,
Chúng ta cứ lấy, làm bài sẻ chia.
Trông núi nọ, nhìn hướng kia,
Để cho ta bắt, chia lìa đôi bên.
Nay ta quỳ trước cửa đền,
Chí bền giữ nước, vượt trên muôn trùng.
Đừng để sông núi lạnh lùng,
Nước Nam gìn giữ, anh hùng vững tâm.
Đừng ham trước mắt phù vân,
Quả cam chín ngọt mà thân héo dần.
Lưu lạc tứ xứ muôn phần,
Ba cọc chẳng vững, chẳng gần quê hương.
Bất tài thành kẻ tha phương,
Sống nơi tạm bợ, tang thương phủ đầy.
Không tin ngẩng mặt mà hay,
Phàm nhân chưa thấu, trời nay chứng mà.
Làm người phân rõ chính – tà,
Thần linh hiển thánh, đâu ma mà lần.
Đức tin hun đúc bao lần,
Không cam công cốc, Tây thần hãm xa.
Nhớ lần truyền giáo nước ta,
Tuy gọi truyền giáo chứ là xâm lăng.
Con Rồng cháu Tiên nhớ chăng,
Tổ tông máu chảy, chẳng bằng Chúa sao?
Trông sang Phật giáo như nào,
Cùng tu, cùng đạo, khác nhau một trời.
Nhà Phật chẳng cần nói lời,
Độ người hiếu nghĩa, sống đời từ bi.
Cha mẹ sinh dưỡng ta đi,
Nuôi con khôn lớn, sá gì nhọc thân.
Đến khi đủ cánh xa dần,
Quên công cha mẹ, lặng thầm như sương.
Phật đâu khiến kẻ đoạn trường,
Cũng không ép đạo, gieo đường hư tâm.
Chúng ta gìn giữ quê hương,
Một lòng son sắt, yêu thương giống nòi.
Ngân vang tiếng Việt muôn đời,
Văn hoá phong tục sáng ngời nước non.
Anh em ở khắp giang sơn,
Đâu chỉ lời nói cảm ơn nước nhà.
Còn bao chiến hữu gần xa,
Vài năm chinh chiến, gọi là cùng nhau.
Cu-ba tới trước, tới sau,
Người dân mỗi nước, năm châu là nhà.
Bởi vậy chẳng ngại cách xa,
Nửa vòng địa cầu, vẫn qua mấy lần.
Vì nghĩa tình nồng nhân dân,
Cu-ba sẵn lòng máu dần chảy ra.
Anh em nước bạn phương xa,
Khó khăn chớ nản, chúng ta kề lòng.
Chỉ cần một tấm tình nồng,
Dù cho ít ỏi vẫn đồng như non.
Biết ơn muôn thuở vẫn còn,
Khát khao an lạc trong tròn kiếp nhân.
Anh em đồng đạo đồng thân,
Giúp nhau vượt thoát cơ bần, khổ đau.
Đừng quên đất Lào mai sau,
Bom rơi, khói lửa biết bao tang sầu.
Anh em chẳng cách núi ngàn,
Kề bên láng giềng, nghĩa càng đậm sâu.
Trải qua giông bão cùng nhau,
Dân ta phát triển càng mau, càng giàu.
Anh bạn có nhánh cau tươi,
Cho ta trái trầu thắp lời hương dâng.
Rốt cùng thương nghĩa bao lần,
Nhớ thời gian ấy, bâng khuâng cõi lòng.
Anh em khắp chốn trời Đông,
Chung câu đoàn kết, một lòng sắt son.
Đắp xây hạnh phúc nước non,
Vượt bao thử thách vẫn còn niềm tin.
Anh cả công lao vẫn in,
Nước Nam bền vững nghĩa tình keo sơn.
Từ khi kháng chiến đầu cơn,
Anh trao súng đạn, chia hơn ngọt bùi.
Mấy năm khói lửa ngược xuôi,
Tình anh em ấy chẳng nguôi tháng ngày.
Tên lửa, pháo, súng đưa tay,
Máu xương chẳng quản, vì nay nghĩa đồng.
Trời Âu cách trở biển Đông,
Mà như kề cận, một lòng sắt son.
Người đây chẳng ngại hao mòn,
Giúp ta đứng vững, vượt cơn bão giông.
Bao năm gian khổ chất chồng,
Tình thân ấy vẫn một lòng chẳng phai.
Công ơn to lớn dạn dày,
Như sông chẳng cạn, như mây chẳng tàn.

Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!

💬 Bình luận chương

Nguyễn An Minh Thuận • 03/09/2026
Chương này thực ra chỉ PR thơ chứ ko có gì hết :))