Không Gian Chữ - Web Tạo Truyện Chữ Bằng AI
×
Không Gian Vạn Giới
Dùng 500 Mảnh Vỡ để triệu hồi Hệ Thống.
(Tỉ lệ Rank S - Màu Đỏ: 0.15%)
Chưa có HT
Kho Đồ
500
×
🎒 Kho Hệ Thống

Chọn 1 hệ thống để kích hoạt hoặc nhiều món cùng cấp để dung hợp.

Đang tải dữ liệu...
← Quay lại: Thiên Lộ Du Hành Ký

Chương 2: Khởi Nguyên của thế gian, học đạo ở Thạch Môn.

🧾 Chương 2 🕒 03/09/2026 21:13 👁 3355 lượt xem
Chương 2: Khởi Nguyên của thế gian, học đạo ở Thạch Môn.

Thuở xưa, xa hơn cả cái gọi là “thuở ban đầu”, khi là không trời, không đất, không ánh sáng, không bóng tối, không thời gian, không không gian và không sinh linh... Cả cõi vũ trụ khi ấy chỉ là một khoảng hỗn mang đen đặc, chật hẹp, tĩnh lặng, không trôi chảy, không phương hướng. Giữa cái hư vô ấy, chỉ có một đấng duy nhất tồn tại, chẳng tên, chẳng hình, chẳng ai biết đến. Ngài là sự có mặt đầu tiên, là mầm khởi của vạn vật, là bóng dáng cô tịch trong cõi hư không. Vô lượng kiếp trôi qua, đấng ấy tĩnh tọa giữa bóng đêm, hấp thu tinh hoa của hỗn độn mà tu hành đại đạo. Khi công quả viên mãn, ánh sáng đầu tiên được thắp lên từ chính linh quang trong tâm ngài. Người đời sau tôn kính gọi ngài là Thiên Trụ Đại Thần – Thiên Khởi, nghĩa là “trời mở ra, khởi đầu từ trời”. Ngài là Thần của muôn thần, là khai nguyên của sinh mệnh, là cội nguồn của vạn cảnh thiên địa, là sự vận hành của thế gian, là hiện thân của vạn vật.

Không biết bao nhiêu kỷ nguyên đã luân hồi, cho đến một ngày, trong cõi vô minh sâu thẳm, thân ảnh khổng lồ của Thần dần hiện ra. Thân thể ấy sừng sững hơn núi non, vững chãi hơn đá tảng, mỗi bước chân khổng lồ của thần có thể vượt từ đỉnh núi này sang dãy núi khác mà chẳng chút khó khăn, như thể cả đất trời đều nằm gọn trong bước đi. Mái tóc thần đỏ rực như hỏa diệm, tung bay giữa trời mây cuồn cuộn, râu dài như suối thác bạc đổ. Đôi mắt sáng như nhật nguyệt, soi rọi cả hư không, mang uy nghiêm của đấng khai thiên. Thân thể Thần cuồn cuộn sức mạnh, cơ bắp cứng rắn tựa kim cương thạch, khố vải thô quấn quanh hông, trên vai vẫn vương dấu vết xiềng xích cổ xưa, như kẻ gánh chịu vận mệnh của vũ trụ.

Ngài đã ngủ yên trong bóng tối từ thuở xa xăm. Khi tỉnh giấc, trước mắt ngài chỉ là màn đêm tĩnh mịch, đặc quánh. Ngài vùng dậy, vươn người trỗi dậy thật cao, nhưng đầu chạm vào vòm trời đen đặc vô hình khiến ngài choáng váng mà ngã xuống. Cú va chạm ấy khiến trời vỡ ra từng mảnh, thân ngài cũng rơi vụn, tạo thành vô số mảnh đá, bụi đất vương vãi dưới chân. Ngài trầm mặc một hồi lâu, rồi bỗng hiểu ra điều cần phải làm: phải nâng trời lên khỏi mặt đất. Thế là, giữa cõi hỗn độn, thần bắt đầu đào đất, đập đá, đắp thành một cột trụ khổng lồ – một trụ đá nối liền trời với đất. Mỗi ngày, ngài đắp cột cao thêm, và mỗi lần cột cao lên một chút, vòm trời như tấm màn khổng lồ lại được nâng cao hơn một bậc. Không ai giúp, không một tiếng gọi tên, chỉ mình ngài, lặng lẽ đội trời vá đất, chống đỡ cho vũ trụ sơ khai.

Cứ thế, qua bao thời đại, cột đá ấy được hoàn thiện. Trời và đất dần phân biệt. Trời cong như bát úp, đất bằng như mâm vuông, nơi trời đất giáp nhau gọi là chân trời. Khi đã đẩy được trời lên thật cao, thần bắt đầu ban màu sắc cho thế gian: trời lam, đất nâu, biển xanh, ánh sáng đầu tiên xuất hiện. Đó là lần đầu tiên thế giới có hình, có khối. Thấy cảnh giới đã định hình, thần bỗng quay lại nhìn cột đá khổng lồ mà ngài dựng nên. Không biết vì sao, nhưng trong một khoảnh khắc đầy huyền ý, ngài giơ tay đập tan trụ trời. Mảnh vụn của cột trụ văng ra khắp chốn, nơi rơi xuống biến thành núi non, hòn đảo, gò đống, dãy đồi… Vùng đất nơi thần từng đào đá đắp cột thì lõm sâu thành biển cả mênh mông. Từ đó, mặt đất không còn bằng phẳng – chỗ lồi, chỗ lõm, chỗ biển sâu, chỗ núi cao. Người đời sau gọi cây cột thần ấy là Kình Thiên Trụ – trụ chống trời.

Thế gian giờ đây rộng lớn vô biên nhưng vẫn còn hoang sơ, Thiên Trụ Đại Thần sắp đặt lại trật tự vũ trụ: dựng núi, đào sông, trồng cây, rải nước, tạo gió. Ngài làm cho mọi vật sống hài hòa, để sự sống có thể nảy nở và sinh sôi. Khi công cuộc sáng tạo hoàn tất, ngài rời khỏi thế gian. Người đời không rõ ngài đã đi về đâu: có lời truyền tụng rằng ngài hóa thành thế gian, cũng có truyền thuyết kể ngài đến những không gian xa xôi để quan sát và điều khiển thế gian.

Sau khi ngài rời khỏi thế giới, với mầm sống thần ban tặng thì sinh linh cũng đã sinh sôi rất nhiều. Từ đó tạo nên một thế giới tươi đẹp và trù phú. Người đời nghi nhận công ơn của ngài nên tôn kính gọi là Khai Thiên Lập Địa Cổ Thần, Thiên Trụ Đại Thần hay Thần Trụ Trời và danh xưng là Thiên Khởi ( Có người lại gọi là Thiên Khởi Đại Thần). Qua nhiều thời đại họ dần xem Thiên Khởi là tên của ngài để thể hiện lòng thành kính. Thế nên dân gian mới truyền tụng: “Có Trụ Trời nâng, càn khôn mới định; có Trụ Trời chống, vạn vật mới sinh.”

Thiên Trụ Đại Thần đã không còn hiện hữu nơi thế gian, từ đó sinh linh vạn vật tự sinh rồi tự diệt, khiến trời đất hỗn loạn, mất đi sự cân bằng vốn có. Trong cơn biến loạn ấy, bỗng một vị thần giáng thế từ hư vô, mang quyền năng vô hạn, dựng lại trật tự cho vạn cảnh, khiến vũ trụ vận hành thuận theo thiên đạo. Từ nền tảng mà Thần Trụ Trời đã tạo dựng, ngài tiếp tục sáng tạo vạn vật, hoàn thiện núi sông, bồi đắp cỏ cây, khắc định quy luật, khiến thế gian trở nên toàn vẹn: hoàn hảo ở đoạn đầu, hoàn hảo ở đoạn giữa và hoàn hảo ở đoạn cuối. Khi cõi thế đã an ổn, vị thần ấy lựa chọn ở lại, ngự trị và cai quản, để giữ cho dòng vận hành của vũ trụ mãi trường tồn.

Tương truyền rằng sau khi rời thế gian, ngài bay lên tầng trời cao nhất và cư ngụ tại Cửu Trùng Thiên, trong một cung điện nguy nga tráng lệ. Người đời tôn kính gọi ngài là Cao Minh Thượng Đế – bậc thần minh sáng suốt tối thượng ngự ở trời cao; đôi khi lại thân xưng giản dị là Ông Trời, Thượng Đế. Từ đó, Thượng Đế cai quản khắp các cõi thần, người và âm... Mắt của Trời rất tinh tường, am hiểu và biết hết mọi sự xảy ra trên thế gian. Trời là cha để muôn loài, xét đến muôn việc, thưởng phạt không bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho là Trời sinh, Trời dưỡng, và đến khi chết thì về chầu Trời. Trên đỉnh Cửu Trùng Thiên Đại Bảo Điện, bên cạnh Ngài còn có thê tử – Thiên Vương Thánh Mẫu, người đời thường gọi là Bà Trời; cả hai cùng ngự trị, giữ cho thiên địa vận hành và muôn loài yên ổn.

Đôi lúc hai ông bà cãi mắng nhau là lúc trời vừa mưa vừa nắng. Mỗi lúc Trời giận loài người lầm lỗi ở thế gian thì giáng xuống thiên tai, bão táp, lụt lội, hạn hán... Giang sơn của Trời là từ mặt đất lên đến trên cao có chín tầng trời, và chỗ giáp với đất ấy là chân trời. Trời vô hình, không nói, nhưng người ta tin là đã được Trời cho cuộc sống, không một ai tránh khỏi lưới Trời, mọi việc đều do Trời định. Ngọc Hoàng Thượng Đế luôn luôn vận sắc phục đại triều, áo thêu rồng vàng, đầu đội mũ có tua đỏ dắt mười ba viên ngọc ngũ sắc, tay cầm quyền trượng. Ngọc Hoàng thường ngự trên ngai chạm rồng mỗi lần thượng triều, xử việc trên trời hay ở thế gian. Tả hữu Ngọc Hoàng có các thần nhà trời chầu chực để Ngọc Hoàng sai khiến.

Từ đó, cõi thế tuần hoàn trong đạo Trời: sinh rồi diệt, thịnh rồi suy, hết thảy đều nằm trong vòng quan sát của Thượng Đế. Vạn vật tuy biến chuyển không ngừng, nhưng thiên đạo vẫn trường tồn.

Thạch Môn Sơn

Bên sườn núi rừng bạt ngàn, một chàng thiếu niên khoác trên mình bộ y phục vải thô đã sờn phai, mái tóc buông xõa tựa mây chiều, từng bước phiêu diêu mà tiến về phía thượng sơn. Cậu đi từng bậc, từng bậc đá phủ rêu, cho đến khi gần lên đến đỉnh Thạch Môn, bỗng trượt chân ngã xuống vực sâu. Giữa những cái chớp mắt hững hờ, một luồng sáng lóe lên — một tiên đồng hiện thân, vung tay đỡ lấy cậu giữa không trung, rồi nhẹ như gió mà phi thẳng lên đỉnh núi.

Cả hai đáp xuống trước một hang động tĩnh mịch. Cửa hang rộng mở, khí tiên lượn quanh như sương, dường như nơi này chính là tĩnh điện của chư tiên học đạo. Chàng thiếu niên ngơ ngác nhìn quanh, không tỏ một lời.

Tiên đồng bèn dặn:

“Phiền huynh đứng đây chờ, để ta vào bẩm với Tổ sư.”

Nói rồi, tiên đồng liền cấp tốc lướt vào trong. Bên trong, Tổ sư vẫn đang ngồi lặng lẽ giảng đạo.

Giảng rằng:

“Tâm chấp lại diệt, vốn dĩ vô thường;
Tâm tịnh tu đạo, an nhiên phi thường.
Thế gian hữu hiện, chẳng thể viên mãn siêu cường;
Chung quy rồi cũng suy tàn, đổi vận.”

Chúng tiên ngồi nghiêm chỉnh, tâm lặng như giọt nước sương rơi hướng về phía Tổ sư mà lắng nghe.

Lúc ấy, tiên đồng tiến vào, cúi mình bẩm:

“Sư tổ, đệ tử đã dẫn người đến rồi ạ.”

Tổ sư gật đầu:

“Mau dẫn hắn vào đây, cho chư tiên cùng ra mắt.”

Tiên đồng cúi đầu đáp:

“Đệ tử tuân chỉ!”

Tiên đồng vội quay ra, gọi thiếu niên theo vào. Ngoài cửa, cậu vẫn mải nhìn cảnh vật, hết ngó đông lại ngó tây, chẳng để tâm đến lời gọi.

Tiên đồng khẽ cau mày, nhắc lại:

“Huynh đài, Tổ sư cho mời vào!”

Thiếu niên vẫn lơ đãng, như chẳng nghe thấy. Tiên đồng lúc này đã tỏ vẻ không vui, liền hóa pháp thuật, xông đến áp chế, nắm cổ áo chàng mà lôi vào trong điện. Chư tiên chứng kiến cảnh ấy liền cười rộ, tiếng cười vang vọng cả sơn cốc.

Tiên đồng thưa:

“Sư tổ, con đã dẫn người vào mà ra mắt!”

Tổ sư khẽ mở mắt, hỏi thiếu niên:

“Ngươi danh tánh là gì? Xuất thân nơi đâu? Đến đây ruốc cuộc là có việc chi?”

Thiếu niên ngơ ngác nhìn quanh, rồi đáp thật thà:

“Ta ư? Ông đang hỏi ta ư? Ta cũng không rõ bản thân tên họ là gì, cư ngụ ở chốn đâu? Không biết trả lời ông sao đây?”

Lời chàng vừa dứt, chư tiên lại cười ầm lên, tiếng cười xua tan cả không khí trang nghiêm.

Tổ sư mỉm cười, giơ tay khẽ động, chàng thiếu niên liền bị kéo lơ lửng lên không, nhẹ nhàng đáp xuống trước mặt ngài.

“Không tên, không họ, cũng chả có chốn xuất thân... Chả nhẽ ngươi từ gốc cây chui ra?”

Thiếu niên tỏ vẻ không vui mà đáp:

“Ông có ý gì??”

Tổ sư vuốt râu, ánh mắt hiền hòa:

“Nơi đây vốn cách biết trời đất, thiên hạ dù có thượng thiên hay địa phủ cũng chả ai có thể đến đây. Ngươi lại đến đây quả là có duyên với ta. Chi bằng để ta ban cho tên họ?”

Thiếu niên rạng rỡ:

“Đa tạ!”

Tổ sư bật cười:

“Ngươi tánh vốn dĩ hoạt bát, hồn nhiên, tâm tựa như không vướng bụi trần... Vậy gọi là Vô Nghiên đi.”

Thiếu niên bất chợt nói:

“Vô Nghiên...”

Cậu mỉm cười cúi tạ:

“Đa tạ ông!”

Tổ sư lại cười:

“Ngươi ta có duyên sư đồ... Liệu ngươi có muốn bái ta làm thầy?”

Vô Nghiên nghe vậy, liền cung kính hành lễ:

“Đệ tử bái kiến sư phụ!”

Tổ sư vui vẻ mỉm cười gật đầu, quay sang dặn:

“Chử quản tiên đồng, con hãy sắp chỗ cho tân đệ tử nghỉ ngơi.”

“Đệ tử tuân lệnh!”

Tiên đồng cung kính đáp, rồi quay sang Vô Nghiên, nhẹ giọng:

“Theo ta.”

Cả hai rời khỏi điện. Trên đường, Vô Nghiên tò mò hỏi:

“Tiên đồng ca ca, huynh tên gì vậy?”

Tiên đồng chỉ đáp gọn:

“Thanh Minh.”

Từ ấy, Vô Nghiên cư ngụ nơi Thạch Môn Sơn, chuyên tâm tu học, rèn thân dưỡng đạo. Thời gian thấm thoắt, đã chín mùa xuân trôi qua…

“Trăm năm trong cõi người ta,
Thật tình hữu hạn cũng là mấy niên.
Đối với những bậc thần tiên,
Trăm năm cũng chỉ dải miền mây bay.
Kể ra cũng mấy canh ngày,
Phàm nhân thì lại hồn bay vất vưởng.
Vô Nghiên vấn đáp văn chương,
Chín năm miệt mài nẻo đường luyện tu.
Trải bao sương gió mùa thu,
Chân tu thành tướng, đạo tu thành hình.
Chí khí, tư chất quang minh,
Bái sư học pháp, tự mình tinh thông.
Chí lớn ắt sẽ thành công,
Vô Nghiên rũ sạch bụi hồng thế nhân.
Tướng mạo ngót nghét thanh tân,
Tài lực, trí giỏi cũng dần mấy năm.
Việc làm cũng đến cả trăm,
Để tu được đạo nào nằm được yên.
Ở nơi rừng núi tiếng chim,
Thanh tịnh là chốn để tìm thế gian.
Người đời gây dựng giang san,
Tổ sư xây dựng dở dang cõi thần.
Ai thệ sẽ làm chứng nhân,
Cho dù đi khắp hồng trần chẳng xong.
Tổ sư cũng rất trông mong,
Ra tay giúp sức luyện công phi thường.
Nay nắng, mai lại rải sương,
Càn khôn đã định, chí đường tiến lên.”

Một hôm, Vô Nghiên muốn trau dồi thêm tri thức văn chương của mình, bèn rời khỏi nơi tĩnh tu mà lên đường chu du khắp chốn sơn cốc. Sau mấy ngày vượt núi băng rừng, cậu tìm thấy một nơi cổ kính ẩn giữa vách đá – đó là Đại Thư Các, một hang động rộng lớn trong Thạch Môn sơn, nơi lưu giữ vô số thư tịch cổ, chất đầy những quyển kinh, đạo thư và cổ chí từ thuở thượng cổ. Bước vào trong, hương mực cũ hòa cùng hơi đá lạnh khiến tâm hồn Vô Nghiên bỗng chốc tĩnh lại. Cậu nhìn quanh, đôi mắt sáng rực như trẻ thơ gặp được kho tàng tri thức. Nhưng chưa kịp chạm vào cuốn sách nào, từ sâu trong bóng tối, một ông lão tóc bạc như sương, mặc áo lam dài, tay cầm trượng trúc, bước ra. Ánh mắt lão sáng như soi thấu lòng người.

Vô Nghiên giật mình, toan lùi lại thì lão đã cất giọng trầm tĩnh:

“Đã đến đây rồi, cớ gì lại muốn lẩn đi?”

Cậu toát mồ hôi, lúng túng cúi đầu:

“Ha... ha... Chào lão nhân... tôi chỉ tiện đường ghé qua, chẳng dám quấy rầy.”

Lão cười nhẹ, giọng ấm mà vang vọng:

“Nếu chỉ là tiện đường, sao ánh mắt ngươi lại sáng rực đến thế? Lại đây, ta có điều muốn hỏi.”

Vô Nghiên không dám trái lời, liền bước tới cung kính hành lễ:

“Xin hỏi lão trượng có điều chi chỉ giáo?”

Lão nhìn cậu một lúc rồi nói:

“Tên họ của ngươi là gì? Tới đây vì đạo hay vì tâm?”

Cậu đáp:

“Tại hạ là Vô Nghiên, tiểu tiên tu tại Thạch Môn này. Chỉ mong mở mang học thức, hiểu thêm đạo lý.”

Lão khẽ gật đầu, mỉm cười:

“Tốt. Đã hữu duyên mà gặp, ta kể cho ngươi nghe một chuyện. Ngươi liệu có muốn nghe không?”

Nói đoạn, ông lão chống gậy, mắt nhìn xa xăm. Gió trong động thổi nhẹ, những ngọn đèn đá bập bùng sáng, như soi chiếu lại ký ức của vạn cổ.

Lão kể rằng:

“Thuở xưa thiên địa mịt mùng,
Hoàng Liên linh khí trập trùng sinh ra..
Có đôi thần thú kỳ hoa,
Đả Tràm Oa ấy vốn là song sinh.
Một con giữ đạo quang minh,
Ngọc Tuyền trú ngụ, tu mình thuận thiên.
Ngày đêm hấp thụ linh huyền,
Nghe dòng nước hát mà nghiền đạo sâu.
Nó từng lĩnh ngộ nhiệm màu:
“Đạo sinh vạn vật nhiệm mầu vô biên.
Thuận theo ý đạo tự nhiên,
Ắt rồi trường cửu an yên muôn đời.”
Còn con cái dạ chẳng nguôi,
Huyết Trì ẩn náu nuốt mùi oán linh.
Hấp bao sát khí u minh,
Tham tâm dậy sóng trong hình nguyệt soi.
Đêm đêm ngước mắt lên trời,
Trong lòng đố kỵ chẳng vơi chút nào.
Nó cười cuồng vọng biết bao:
“Nuốt trăng nuốt nhật, ai nào hơn ta?”
Một đêm huyết nguyệt chan hòa,
Đất trời đổi sắc, quỷ ma dậy tràn.
Đả Tràm Oa hóa thân ngàn,
Dài nghìn trượng lớn che tan mây trời.
Há mồm nuốt ánh trăng rơi,
Rồi toan nuốt cả mặt trời thiên không.
Tam giới phút chốc lạnh lùng,
Ánh dương biến mất, bụi hồng tối đen.
Đả Tràm Oa đực bước lên,
Khuyên rằng: “Trời đất nối liền sinh nhau.
Nếu đi nghịch đạo về sau,
Ắt mang họa diệt nhuốm màu tử sinh.”
Nhưng kia thú cái cuồng linh,
Rít vang một tiếng rung rinh đất trời.
Vuốt tung mây phủ muôn nơi,
Nuốt luôn nhật nguyệt giữa vời hư không.
Lôi đình giáng xuống đùng đùng,
Thiên mệnh phẫn nộ, cửu trùng đảo điên.
Vì thương bá tánh nhân tiền,
Con đực lấy thân chắn miền càn khôn.
Sét trời đánh nát linh hồn,
Rơi vào vực thẳm hoàng hôn mịt mờ.
Máu hòa linh khí bơ vơ,
Hóa thành đạo mạch đợi chờ vạn linh.
Muôn loài kỳ dị hữu tình,
Từ nơi huyết lệ hóa sinh giữa đời.
Thấy người đồng mệnh tan rồi,
Con cái càng hóa cuồng ngôi ma tà.
Hút linh khí khắp sơn hà,
Đạo hạnh phút chốc vượt xa Thiên đình.
Bước ra từ vực u minh,
Mỗi chân giẫm xuống lôi đình nổi cơn.
Chư thần khiếp đảm kinh hồn,
Quỷ ma tan tác chẳng còn dám nghe.
Tam giới hỗn loạn bốn bề,
Thiên cung chấn động, sơn khê lệ tràn.
Bấy giờ Thượng Đế hạ phàm,
Ra tay giao chiến giữa màn cuồng phong.
Một đêm trời đất long đong,
Núi nghiêng biển vỡ, hư không rạn dần.
Nhưng Ngài chẳng nỡ diệt thân,
Một lòng cảm hóa linh thần oan mê.
Nào ngờ thú dữ cơn tê,
Há mồm nuốt cả Thượng Đế vào thân.
Trong kia biển máu vô ngần,
Ngài không nổi giận, chỉ gần khuyên răn:
“Ngươi sinh bởi khí càn khôn,
Sao còn muốn diệt nguồn cơn sinh thành?
Bất tử chẳng phải tranh giành,
Nuốt trời nuốt đất để thành chí tôn.
Mà là hòa cùng càn khôn,
Cùng chung đại đạo trường tồn muôn thu.”
Nghe lời giác ngộ thiên thư,
Đả Tràm Oa bỗng ưu tư nghẹn ngào.
Ma khí tan giữa huyết đào,
Lệ rơi hòa lẫn biết bao hối hờn.
Cúi đầu trước ánh từ tôn,
Thượng Đế từ bụng bước luôn ra ngoài.
Hào quang chiếu khắp muôn nơi,
Tam giới lại sáng, đất trời bình yên.
Ngài nhìn thần thú dị hiền,
Khẽ than một tiếng giữa miền mây bay:
“Tội sâu nhưng thiện còn đây,
Ấy là cơ hội đổi thay luân hồi.
Ta từ bụng ngươi mà rời,
Cũng xem như một kiếp đời sinh ra.”
Rồi Ngài vận chuyển linh hoa,
Thu hồn thần thú đưa qua Thiên đình.
Thái Thiên Tổ Mẫu anh linh
Chủ sinh chủ diệt hữu tình tự nhiên.
Từ đây linh khí Hoàng Liên,
Ngàn thu chẳng tắt giữa miền sương lam.
Ánh trăng còn rọi vực ngàn.
Như lời Tổ Mẫu muôn vàn truyền lưu:
“Sinh là cảm hóa thương đau,
Diệt là tái tạo nhịp cầu hồi sinh.”

Lão kể xong, ánh mắt xa xăm, giọng như hòa vào tiếng gió rừng. Vô Nghiên lặng người, lòng dâng lên một cảm giác vừa kính vừa sợ, như thể chính mình vừa nghe được một phần của thiên mệnh cổ xưa.

Cậu khẽ cúi đầu, thì thầm:

“Thì ra, đạo không nằm ở sức mạnh… mà ở tâm của người tu.”

Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!

💬 Bình luận chương

Nguyễn An Minh Thuận • 03/09/2026
Chương này bắt đầu thôi!