Không Gian Chữ - Web Tạo Truyện Chữ Bằng AI
×
Không Gian Vạn Giới
Dùng 500 Mảnh Vỡ để triệu hồi Hệ Thống.
(Tỉ lệ Rank S - Màu Đỏ: 0.15%)
Chưa có HT
Kho Đồ
500
×
🎒 Kho Hệ Thống

Chọn 1 hệ thống để kích hoạt hoặc nhiều món cùng cấp để dung hợp.

Đang tải dữ liệu...
← Quay lại: Thiên Lộ Du Hành Ký

Chương 3: Giảng đạo ở cõi Tiên, tu đạo nơi cõi trần.

🧾 Chương 3 🕒 03/09/2026 22:36 👁 3284 lượt xem
Chương 3: Giảng đạo ở cõi Tiên, tu đạo nơi cõi trần.

Ngày mồng ba tháng Chạp, Tổ sư ngồi giảng đạo trên đỉnh Thạch Môn Sơn. Trên thượng sơn, Tổ sư khoác y phục chẽn bằng vải thô nhuộm nâu sẫm, hai vạt trước được buộc lại bằng dây mây se, giản phác mà vững chắc. Bên ngoài là tấm choàng lông thú màu tro bạc, phần cổ viền bằng lông chim trĩ. Thắt ngang lưng là đai da dày, mặt đai gắn những miếng đồng chạm hình văn thừng và vạch song song, hoa văn. Đúng lúc ấy trời đổ tuyết diệm – thứ tuyết cực hàn mà bỏng rát, vừa giá lạnh xé da thịt, vừa nóng đến như thiêu đốt cốt tủy. Nơi đây, năm nào đến ngày này Tổ sư cũng an tọa mà truyền giảng đạo lý. Chung quanh chỗ thiền tọa có hai mươi tám vị tiên lặng lẽ ngồi nghe đạo, thần sắc bình nhiên như chẳng vướng bụi trần.

Tổ sư an thần tọa định, tưởng như nhập thiên, song lời giảng vẫn vang vọng như tiếng chuông ngọc:

“Thần sanh từ đại nghĩa,
Gánh mệnh giữ nhân gian.
Uy không để kiêu ngạo,
Lực chẳng vì tư gian.
Tiên khởi từ tâm tĩnh,
Thoát lưới bụi hồng trần.
Tự tại mà không loạn,
Thanh nhiên giữa nhân gian.
Thần giữ đời khỏi loạn,
Tiên giữ lòng khỏi tan.
Người gánh được đạo pháp,
Chẳng cách trời bao ngàn.
Người bỏ được dục niệm,
Đã đứng trước tiên quan.
Hiểu Thần là trọng nghĩa,
Ngộ Tiên là sạch tâm.
Một khi vừa giữ đạo,
Vừa lặng giữa phù vân.
Ấy là người bước đầu,
Tiến gần cõi Thánh nhân.”

Vô Nghiên chậm rãi bước đến nơi giảng đạo, chẳng ngờ tuyết diệm vừa chạm da liền nóng rát như lửa, lại lạnh buốt như băng, khiến cậu đau đớn ngã quỵ trên nền tuyết. Hai mươi tám vị tiên vẫn bất động, tịnh tâm nghe đạo, chẳng hề lay chuyển.

Tổ sư khẽ mở mắt, giọng ôn hòa mà thấm sâu:

“Đồ nhi, thân nên tĩnh lặng mà nghe đạo, sao để tâm loạn trước cảnh sắc?”

Vô Nghiên nhăn mặt đáp:

“Sư tôn… Như này người bảo con tịnh tâm kiểu gì ạ?”

Tổ sư mỉm cười:

“Ấy là tuyết diệm. Con an định tĩnh tâm, mặc tuyết mà nghe đạo giảng!”

Rồi Vô Nghiên gắng chịu dưới trời tuyết nghe đạo tới ba ngày giời. Khi này chỉ còn Tổ sư và cậu thiền định nơi thượng sơn.

Khi tỉnh lại, thân thể Vô Nghiên cảm giác thanh thoát như lột xác, linh lực dâng tràn tựa thủy triều dâng cao. Kinh nghi khó hiểu, chàng hướng Tổ sư mà hỏi:

“Sư tôn, linh lực xung quanh con là...?”

Tổ sư gật đầu:

“Tuyết kia cái nóng thiêu trụi xác phàm, cái lạnh tái tạo thân cốt. Linh khí trong tuyết diệm cực thịnh, nên con thay da đổi thịt, tăng trưởng linh lực là điều rất hiển nhiên.”

Vô Nghiên chắp tay:

“Thì ra là vậy, Đồ nhi đã hiểu!”

Tổ sư trở lại dáng thiền tọa, giọng trầm hậu:

“Đồ nhi, tịnh tâm mà nghe tiếp đạo.”

Vô Nghiên điều tức, an thần, cung kính đáp:

“Đệ tử hiểu rồi ạ!”

Tổ sư ngâm mấy câu thơ:

“Trăm năm ở cõi người đời,
Chữ tài khi ấy rạc rời mệnh đau.
Sự đời vốn lắm nát nhàu,
Sự tình ta thấy nào đâu thản lòng.
Phận người giông tố cuồng phong,
Trải qua một kiếp, dấu hồng xứng danh!”

Vô Nghiên ngẫm nghĩ, rồi vòng tay hỏi:

“Sư tôn, đồ nhi hiểu sự khắc nghiệt, bi đát của trần gian. Nhưng vì sao năm câu đầy bi thương, đến câu cuối lại bảo ‘dấu hồng xứng danh’? Khi người ta đã lụi tàn, sao vẫn vang danh được?”

Tổ sư đưa mắt nhìn phương xa, ngâm tiếp một bài thơ mới:

“Kiếp trần nghiệt ngã phong ba,
Tài - mệnh rời rạc, xót xa cõi lòng.
Giông tố quật ngã bờ sông,
Thân người vẹn vững, hồn không bay xa.
Đau thương hun đúc bản ngã,
Trăm năm bão tố, phong ba cõi trần.
Lòng son chẳng dễ phai dần,
Dấu hồng hiện thế phàm thân phi thường.
Thân tàn cát bụi gửi sương,
Giữa thế trần hoa còn vương vấn chi?”

Vô Nghiên nghe mà thấu, tâm như có dòng suối ngộ chảy xuyên cốt tủy. Thấy đồ nhi đã ngộ được đôi phần, Tổ sư tiếp tục giảng:

“Đời mang khổ, mang hận là lẽ thường,
Chớ than thân, đừng trách mệnh bạc.
Gốc rễ khổ đau khởi từ tâm,
Ác tâm gieo sầu, kết thành thảm kịch.
Rời bỏ tối tăm nào phải dễ,
Chỉ khi lìa cái xấu, tâm mới tĩnh.
Lòng trong như ngọc, sương sớm thanh,
Thiện đức lấy làm nền muôn đạo.
Tâm ta sáng, hồn ta rực rỡ,
Khổ đau hóa hư, họa nạn tiêu.
Người biết tu tâm là người vững,
Phiêu du mà rạng tựa trời mây.”

Trong lúc tịnh thiền du ngoạn thế gian bằng tâm thức, Vô Nghiên thấy mình bước giữa cõi phàm.

Nơi quảng trường chật chội, dân chúng tụ hội làm lễ cầu phước. Giữa quảng trường là một chiếc kiệu lớn, trên đó có tám người. Ở trung tâm là một tiểu đồng mập mạp, vẻ mặt ngây thơ chưa hiểu sự đời. Hai bên là hai thiếu nữ độ trăng vừa tròn mười sáu, mười bảy. Phía trước còn có hai tiểu nam hài tầm bảy tuổi, sau cùng là ba bé gái chừng năm tuổi. Nét ngây thơ còn vương trên đôi mắt, chẳng biết mình sắp bị định đoạt bởi lẽ tin mù của người đời. Khi nghi lễ kết thúc, chiếc kiệu ấy bị khiêng đến ven một vực thẳm. Từng bước chậm rãi, từng tiếng cầu khẩn dâng lên trời xanh.

Rồi trong sự cuồng tín của lòng người, chiếc kiệu bị đẩy thẳng xuống vực, tám mạng người bị coi như vật tế, rơi vào hư không chỉ để đổi lấy niềm tin rằng thần linh cần máu thịt mới ban phước lành. Chứng kiến cảnh ấy, Vô Nghiên không thể bình tâm. Cậu toan lao xuống cứu, linh thức đã muốn phá vỡ trạng thái thiền. Nhưng đúng lúc ấy—chàng chợt choàng tỉnh khỏi lần du ngoạn trong tâm, trên trán đã đẫm mồ hôi lạnh. Gió thổi qua, cuốn theo từng giọt mồ hôi như nỗi xót xa chưa kịp thốt thành lời.

Tổ sư thấy đồ nhi thần sắc bất ổn, liền điềm đạm nói:

“Đồ nhi, khi an thiền phải giữ tâm không động, thần thân không phản ứng, tự nhiên mới luyện thành.”

Vô Nghiên vội cúi đầu giãi bày:

“Sư tôn… trong lúc tịnh tâm, con chứng kiến một cảnh khiến lòng khó an.”

Tổ sư gật đầu:

“Có điều nghi hoặc, cứ nói.”

Vô Nghiên siết tay, mắt còn chút phẫn uất:

“Phàm nhân tin tưởng thần linh, ấy vốn là thiện tâm. Nhưng tại sao họ lại tin rằng phải dùng sinh mạng người để hiến tế? Thần tiên chúng ta nào ăn phàm thịt, sao lại để sinh linh bị giết nhân danh thờ cúng?”

Tổ sư đáp:

“Phàm trần vốn là phù du. Tin thần mà sinh ra điều thiện – ấy là căn cơ tốt. Họ biết kính sợ nhân quả, biết hành thiện, biết khiêm cung, biết cảm ân, biết bao dung, biết cố gắng vượt lên, biết phân biệt đúng sai. Dù thần linh có thật hay không, một khi lòng họ hướng lên ánh sáng, thì chính niềm tin ấy đã là phước báu. Nhưng cũng bởi tin thần mà sinh ra mù quáng, bị tà ma lợi dụng, nhân danh thánh ý để hành ác. Khi tín ngưỡng bị bóp méo thành mê tín, thì dù lòng người thiện lương, tâm đã lệch đạo thì nghiệp báo khó tránh.”

Vô Nghiên vẫn chưa hoàn toàn khuất phục:

“Sư tôn, nếu người đời vì hiểu sai thần đạo mà gây nghiệt, vậy chẳng phải là lỗi cũng tại thần giới không chỉ dẫn? Sao chúng ta không trực tiếp hiển linh mà thức tỉnh họ? Với uy lực của Tiên giới, chẳng phải có thể dẹp loạn, cứu vô số sinh mạng sao?”

Tổ sư khẽ nhắm mắt, rồi mở ra với ánh nhìn sâu như biển trời:

“Đồ nhi, con chưa thật sự hiểu ý nghĩa của ‘Thần’.”

Ngài tiếp lời như chuông ngân giữa tâm cảnh:

“Thần linh là những bậc đã lấy đức mà tu, lấy nghĩa mà đứng, lấy hy sinh mà giữ mệnh thế gian. Vai trò của thần không phải để diệt hết khổ đau, mà là để giữ cho trật tự của cõi đời không sụp đổ.”

Ngài tiếp lời nói về ý nghĩa của thần:

“Thế gian có sinh tất có diệt, trời đất còn không vẹn toàn, huống hồ là phàm nhân? Phàm gặp khổ mà cầu thần, nhưng nếu thần gặp khổ, thần biết cầu ai? Vì vậy, thần không phải kẻ băng bó vết thương của thế gian, mà là người thắp đuốc trên đường để kẻ bị thương tự bước tiếp.”

Tổ sư trầm ngâm một chốc rồi nói thêm:

“Nếu thần luôn ra tay, con người sẽ học cách cầu khẩn thay vì tự đứng lên. Khi ấy, niềm tin sẽ trở thành xiềng xích, chứ không phải đôi cánh. Danh xưng ‘Thần’ không đến từ việc họ bất tử, mà từ việc dù hữu hạn, họ vẫn hiến hữu hạn ấy cho đại nghĩa. Họ từng là phàm, từng chịu đớn đau, từng chọn hy sinh tình riêng vì thiên đạo. Đó là lý do họ đáng được tôn là thần.”

Tổ sư tỏ vẻ nghiêm nghị và tập trung hơn:

“Nhưng đã là thần, không được phép yếu lòng trước nhân gian, vì chỉ một lần thần ngã xuống, lòng người sẽ mục nát theo. Thần linh không vô tình, nhưng buộc phải đặt lý lên trên tình; không vô cảm, nhưng phải giấu cảm xúc dưới áo nghĩa lớn. Họ cô độc, nhưng chính cô độc ấy giữ cho ánh sáng công chính không bị bóng tối thôn phệ. Thần không sống để được quỳ lạy, mà sống để làm kiểu mẫu; không giữ phàm nhân khỏi sai lầm, mà giữ cho họ còn con đường quay đầu.”

Ngài dừng một nhịp, hỏi:

“Đồ nhi, con đã thấu chăng?”

Vô Nghiên lặng một hồi rồi cúi đầu:

“Đồ nhi… đã hiểu.”

Tổ sư bật cười khẽ, như gió xuân chạm đỉnh tuyết:

“Vô Nghiên ngồi thấu đạo,
Tâm chẳng vướng hồng trần.
Thần linh giả hay thật,
Từ bi chăng lạnh lùng?
Người trần cầu bái Thần,
Hiển uy độ khổ nhân.
Giúp đời vơi thống khổ,
Chớ lạc bước tà tăm.
Mê tâm do ma nhập,
Lệch đạo bởi sai lầm.
Chân tu là chân chính,
Hướng thiện, ngộ vô tâm.
Dục tâm rồi tan vụn,
Sắc họa hóa hư không.
Đắm chìm trong huyễn cảnh,
Mơ mộng lạc cõi hồng.
Nào nên rời bỏ Thần,
Thần trú chốn tâm trung.
Người đời rồi hướng thiện,
Oán Thần chẳng ích chi.
Cầu Thần làm điều lợi,
Chỉ thỏa dục tâm phi.
Lạc mê trong tám hướng,
Quy nhất tại vô nghi.
Trăm năm dồn sức lực,
Sau rốt cát bụi đi.
Cõi đời là mông mênh,
Mê tín sinh cuồng nghi.
Hồn lạc nơi gió bụi,
Phù sinh vốn phu du.
Tự thân cần đứng vững,
Chớ dựa bóng ai phù.”

Vô Nghiên cứ thế nghe giảng pháp, rồi lại nhập tịch ngồi thiền. Tu luyện không biết mệt mỏi, thời gian từ từ trôi qua tựa gió thoảng mây bay. Thấm thoắt mấy chục năm chớp mắt đã qua, linh lực trong thân cậu đã sâu xa như biển, kiến thức cơ pháp cũng trở nên uyên thâm đáng kể.

Một hôm, Vô Nghiên quyết định tự ý xuất sơn, muốn trải nghiệm nhân thế, vừa để ngao du, vừa tìm hiểu lòng người mà tu dưỡng thêm tâm tính. Cậu thi triển thuật Vân Phi Hành, thân ảnh như nhạn lướt giữa mây trời, hạ xuống một khu rừng tĩnh mịch ven bờ sông Nhị. Gốc cổ thụ già rêu phong ở gần đó như mời gọi. Cậu bước chậm tới, khoanh chân an tọa, tiếp tục luyện hóa linh lực. Chín ngày chín đêm không nhúc nhích, đến khi mở mắt, việc đầu tiên hiện hữu trong tâm trí lại không phải là đạo lý huyền diệu, mà là tiếng bụng réo vang như sấm mùa hạ. Sắc mặt cậu tái nhợt, tinh thần uể oải hẳn đi.

Vô Nghiên ôm bụng than thở:

“Ngẫm ra… đã chín ngày chưa có gì vào bụng… đói đến muốn thấy tiên luôn rồi…! Cơ mà mình là tiên mà ta?”

Cậu lục lọi quanh người, nhưng mới chạm tay vào túi áo đã chợt chết lặng — chẳng mang theo chút lương khô nào. Nỗi tuyệt vọng ập đến như lũ cuốn, Vô Nghiên run run cầm gậy trúc, khập khiễng lê bước mà đi.

Vừa đi vừa than trời:

“U là trời… xuống núi mà quên luôn lương thực… giờ đói thế này thì biết đường nào về núi đây…”

Đi được chừng nửa dặm, phía trước hiện ra một bóng người già nua đang còng lưng vác một bó củi lớn, từng bước chậm chạp mà run run. Vừa đi, bà lão vừa thở dốc. Chợt có một viên đá khiến bà vấp ngã, cả thân hình gầy gò nghiêng hẳn sang một bên. Phản ứng trong khoảnh khắc, Vô Nghiên cố gắng dồn chút sức tàn phóng tới đỡ lấy bà.

Cậu lo lắng hỏi:

“Lão bà! Người không sao chứ?”

Bà lão từ từ chống tay ngồi dậy, ngước nhìn cậu, ánh mắt ôn hòa:

“Ta cảm ơn cậu… Không có cậu chắc ta đã ngã mà bỏ mạng nơi nẻo rừng này rồi!”

Đang nói, Vô Nghiên đột nhiên ngã khuỵu xuống đất, mặt cắt không còn giọt máu, chỉ đủ sức lắp bắp:

“Khô… có… ch… iii…!”

Bà lão hốt hoảng thốt lên:

“Ân nhân, cậu bị sao vậy!?”

Cậu khẽ gượng đáp, giọng yếu ớt:

“Con… chỉ đói quá thôi…”

Bà lão nghe vậy liền vội móc trong tay nải ra vài chiếc bánh trưng, bánh giầy, bánh mật còn thơm mùi lá xanh, nhẹ nhàng đưa cho cậu:

“Lão có ít bánh… cậu ăn tạm…”

Vừa nghe đến chữ “ăn”, mắt Vô Nghiên lập tức sáng lên như thấy cứu tinh. Cậu chẳng khách sáo, ăn lấy ăn để đến không sót một mẩu vụn. No bụng rồi, tinh lực dần hồi phục, cậu chủ động vác bó củi, theo bà lão về căn nhà nhỏ đơn sơ gần bờ sông.

Tới nơi, cậu giúp bà xếp củi dưới bếp rồi ngồi xuống chiếc bàn gỗ bên góc nhà. Khi đã an vị, cậu tò mò hỏi:

“Một mình người mà lại sống ở nơi rừng rậm hoang vu, hẻo lánh này sao?”

Bà lão mỉm cười hiền hậu:

“Lão đây ở đây cũng đã tám chục năm rồi.”

Vô Nghiên chớp mắt ngạc nhiên:

“Ủa, chỉ mình người thôi sao?”

Bà gật đầu:

“Ừ, chỉ mình lão.”

Cậu lại hỏi:

“Người thân của bà đâu? Một mình ở chỗ rừng thiêng nước độc thế này… không sợ nguy hiểm chăng?”

Bà bật cười:

“Haha, nếu sợ thì ta đã rời khỏi đây từ lâu rồi hà cớ mà hôm nay gặp cậu?”

Vô Nghiên khen:

“Bà à… người cũng thật can đảm! Vậy… xin người cho ta tá túc một đêm, sáng mai ta đi.”

Bà gật đầu:

“Được chứ.”

Đêm ấy, bà chuẩn bị cho cậu chăn màn đầy đủ. Vô Nghiên yên tâm ở lại một đêm, màn đêm lặng lẽ trôi qua. Sáng hôm sau, cậu vừa ngáp vừa bước ra sân thì thấy bà đang chuẩn bị một số đồ mang đi bán: bánh chưng, bánh giầy, bánh mật, bánh bao, kẹo lạc, thêm vài loại tôm cá khô và thủy sản sông Nhị.

Cậu hỏi:

“Bà định đi đâu vậy?”

Bà đáp:

“Lão đây mang ít đồ này ra làng gần đây bán kiếm chút bạc.”

Nghe vậy, Vô Nghiên liền gánh giúp:

“Để ta giúp người một tay!”

Hai người cùng đến ngôi làng ven rừng. Họ trải hàng ra một góc chợ nhỏ, dân cư qua lại tấp nập. Được một lúc, bà lão loay hoay rồi khẽ nhăn trán:

“Nay đi vội quá, lão thân quên ghế với túi tiền ở góc giường rồi…”

Vô Nghiên liền nói:

“Bà đợi con, để con về lấy nó!”

Bà căn dặn:

“Từ đây quay về cũng không mấy gần, cậu cẩn thận nhé.”

Cậu bèn nhanh chóng đi đến chỗ khuất người rồi thi triển thuật Dịch Chuyển Tức Thời, chớp mắt trở về nhà lấy đồ rồi trở lại chợ như chưa từng rời đi. Cả ngày bán xong, mặt trời cũng ngả bóng, hai người lại men theo con đường nhỏ để về. Bà chống gậy từng bước, Vô Nghiên cõng đồ đi phía sau. Bỗng, một cơn gió lạnh tanh thốc qua, mùi tanh nồng hệt như máu thối xộc vào mũi. Làn sương mờ từ lối rừng bên cạnh từ từ cuộn lại thành một bóng đen đang chặn ngang đường đi…

Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!

💬 Bình luận chương