Chương 4: Quốc Tử Giám!
Sau lễ tế thần sông, Đông Kinh có thêm một câu chuyện để kể.
Dân chúng nơi kinh thành vốn yêu chuyện lạ.
Một con cá chép nhảy lên thuyền cũng có thể thành điềm lành. Một đám mây trông giống rồng cũng đủ khiến trà quán bàn tán ba ngày. Huống chi lần này không phải mây, không phải cá, không phải lời đồn không đầu không đuôi, mà là chuyện xảy ra ngay trước mắt hàng nghìn người ở bến Thủy Vân.
Thủy quái hiện thân giữa lễ tế.
Thuồng luồng bị tà khí xâm nhiễm quấy nhiễu sông lớn.
Các Vương Gia của Đại Sở hợp lực trấn áp.
Và Hoàng nhị tiểu thư phủ Lại Bộ Thượng Thư, người vốn mười bốn năm không có thần tích, trước mặt hoàng thất, bá quan, dân chúng Đông Kinh, cổ tay nở một đóa sen bạc, điều nước cứu người, tách tà khí khỏi dòng sông, lại đóng băng mặt nước trong một nhịp để Tam Vương Gia kết liễu tà hạch.
Chuyện ấy lan nhanh hơn gió trên sông.
Sáng hôm sau, ở chợ Thanh Long đã có người kể rằng Hoàng nhị tiểu thư được Mẫu Thoải nhập mộng từ sau lần rơi hồ.
Đến trưa, ở quán trà gần Chu Tước đạo, câu chuyện đã biến thành nàng vốn là tiên nữ Thoải Phủ bị lạc xuống nhân gian, nay gặp lễ tế nên thức tỉnh.
Đến chiều, trước cổng chùa Liên Hoa, mấy bà bán hương đã thì thầm rằng lúc sen bạc nở, cả khúc sông Thủy Vân đều thơm mùi hoa sen, chim Lạc bay thành đàn trên trời.
Đến tối, trong một ngõ nhỏ phía đông thành, một đứa trẻ còn nói chắc như đinh đóng cột:
“Ta thấy Hoàng nhị tiểu thư cưỡi trên lưng rồng nước!”
Đứa khác lập tức phản bác:
“Không đúng! Là Tam Vương Gia cưỡi rồng sét, Hoàng nhị tiểu thư cưỡi sen bạc!”
Tin đồn cứ thế mọc thêm cánh, càng bay càng lộng lẫy.
Còn người trong cuộc thì đang nằm bẹp trên giường uống thuốc.
Hoàng Nhật Nguyệt nhìn bát thuốc đen đặc trước mặt, vẻ mặt nghiêm trọng như đang nhìn kẻ thù truyền kiếp.
Tiểu Ngân đứng bên cạnh, tay bưng đĩa mứt sen, ánh mắt đầy khích lệ.
“Tiểu thư, uống đi. Đại phu nói người hao thần lực, lại vừa khỏi bệnh, thuốc này rất bổ.”
Nhật Nguyệt nghiêng đầu nhìn nàng.
“Ngươi có muốn nếm thử một ngụm không?”
Tiểu Ngân lập tức lùi nửa bước.
“Nô tỳ không hao thần lực.”
“Nhưng ngươi rất quan tâm đến thuốc này.”
“Quan tâm không nhất thiết phải uống.”
Nhật Nguyệt thở dài.
Từ sau lễ tế thần sông, nàng đã ngủ gần một ngày một đêm. Không phải ngất hẳn, mà là mệt đến mức mở mắt không nổi. Cảm giác ấy kỳ lạ vô cùng. Thân thể như bị ai rút cạn nước, đầu óc thì lúc chìm lúc nổi, trong mộng toàn nghe tiếng sóng vỗ và một giọng nữ xa xăm không rõ lời.
Đại phu trong phủ nói nàng hao tổn tinh khí.
Khâm Thiên Giám thì sai người đến báo: đó là phản ứng thường thấy khi thần tích vừa thức tỉnh đã bị dùng quá mức.
Hoàng phu nhân nghe xong, sắc mặt tái đi.
Hoàng Khánh Văn tuy không nói gì, nhưng đã lập tức lệnh cho người trong phủ không được nhắc quá nhiều chuyện thần tích trước mặt nhị tiểu thư, tránh khiến nàng nghĩ ngợi.
Hoàng Nhã Nhã thì trực tiếp chuyển một chồng sách y lý căn bản và ghi chép thần tích từ thư phòng nàng sang Nguyệt Liên Viện, mặt không đổi sắc nói:
“Đọc để biết bản thân làm gì, nhưng mỗi ngày chỉ được đọc hai khắc. Quá giờ ta thu sách.”
Nói xong, nàng còn sai Tiểu Trà đặt một chiếc đồng hồ nước nhỏ trong phòng Nhật Nguyệt.
Tiểu Ngân nhìn chiếc đồng hồ nước ấy như nhìn pháp khí trấn yêu.
“Đại tiểu thư thật đáng sợ.”
Nhật Nguyệt gật đầu đồng cảm.
“Đáng sợ nhất là tỷ ấy luôn đúng.”
Người luôn đúng khiến người ta không cãi nổi.
Sau một hồi đấu tranh với bát thuốc, Nhật Nguyệt cuối cùng nhắm mắt uống một hơi.
Đắng.
Đắng đến mức linh hồn hiện đại của nàng suýt bay về thế kỷ hai mươi mốt.
Tiểu Ngân vội nhét mứt sen vào tay nàng.
“Tiểu thư, ăn nhanh!”
Nhật Nguyệt cắn một miếng mứt, vị ngọt cứu nàng khỏi bể khổ.
Nàng vừa thở phào, ngoài cửa đã vang lên tiếng bước chân.
Tiểu Trà bước vào, sau lưng là Hoàng Nhã Nhã.
Hôm nay Hoàng Nhã Nhã mặc áo giao lĩnh màu tím nhạt phủ ngoài lớp áo trắng, thắt đai xanh sẫm, tóc vấn gọn, cài trâm bạc hình lá trúc. Nàng không cần mặc màu cố định nào mới đẹp; khí chất sạch sẽ, trầm tĩnh ấy khiến bất cứ màu nào khoác lên người cũng trở nên có trật tự hơn.
Tiểu Trà cầm trên tay một chiếc khay gỗ đỏ, bên trên đặt hai phong thư.
“Nhị tiểu thư, Quốc Tử Giám và Trùng Thiên Điện gửi thư đến.”
Nhật Nguyệt lập tức ngẩng đầu.
“Thư?”
Hoàng Nhã Nhã đặt một phong lên bàn.
“Thư mời nhập học.”
Tiểu Ngân sáng mắt.
“Tiểu thư được vào Quốc Tử Giám rồi sao?”
Hoàng Nhã Nhã nhìn nàng.
“Người có thần tích đều sẽ được Quốc Tử Giám ghi danh, huống chi thần tích của Nguyệt Nhi thức tỉnh trước mặt Quan gia, Thái Hậu và Khâm Thiên Giám. Không gửi thư mới lạ.”
Nhật Nguyệt cầm phong thư lên.
Phong thư được làm từ loại giấy da thuộc thượng hạng, bề mặt lấp lánh những hạt bụi vàng mịn, góc thư được niêm phong bằng một lớp sáp màu đỏ mang hình ấn ký chim phượng hoàng tung cánh.
Giấy dày, mùi mực còn mới. Bên ngoài có ấn đỏ của Quốc Tử Giám, nét chữ nghiêm chỉnh:
Phủ Lại Bộ Thượng Thư, Hoàng nhị tiểu thư Nhật Nguyệt thân khải.
Phong thứ hai có dấu của Trùng Thiên Điện, hoa văn cờ lệnh và mây nước.
Nàng mở thư Quốc Tử Giám trước.
Nội dung rất trang trọng: Quốc Tử Giám kính mời Hoàng Nhật Nguyệt nhập học, theo chương trình dành cho thế gia nữ tử và nhân tài có thần tích. Ngoài các lớp chữ nghĩa, lễ nghi, địa chí, thi phú, nhạc họa, nàng sẽ được xếp vào nhóm học viên Trùng Thiên Điện phía đông Quốc Tử Giám để kiểm tra căn cơ thần tích, học phương pháp điều tức, kiểm soát thần lực, phòng tránh phản phệ và phối hợp cùng người có thần tích khác.
Thời gian nhập học: ba ngày sau.
Nhật Nguyệt đọc xong, mắt sáng lên.
Đi học.
Nàng thật sự phải đi học lại.
Ở hiện đại, nàng đã qua cái tuổi cắp sách từ lâu. Học với nàng từng là áp lực, là thi cử, là tiền học, là thức khuya, là phải cố giỏi để tự cứu mình khỏi những chật vật của gia đình. Nhưng bây giờ, nghĩ đến việc được vào một học phủ cổ đại, học lễ nghi, địa chí, thi phú, thần tích, lại có Quốc Tử Giám và Trùng Thiên Điện như bước ra từ sách sử pha thần thoại, lòng nàng không khỏi háo hức.
Hoàng Nhã Nhã nhìn vẻ mặt nàng.
“Muội vui?”
“Vui.” Nhật Nguyệt thành thật. “Rất vui.”
“Đi học không chỉ có vui. Quốc Tử Giám quy củ nghiêm. Trùng Thiên Điện càng nghiêm hơn. Muội vừa thức tỉnh, căn cơ chưa ổn, chắc chắn sẽ bị kiểm tra kỹ. Giáo thụ sẽ không vì muội là nữ nhi Thượng Thư mà nương tay.”
“Giáo thụ là ai?”
Hoàng Nhã Nhã lấy phong thư thứ hai, mở ra xem.
Sau khi đọc đến đoạn cuối, nàng hơi dừng.
“Trùng Thiên Điện có hai vị hoàng thân được điều đến giảng dạy năm nay: Tam Vương Gia Sở Tĩnh Hàn và Đại Vương Gia Sở Viên.”
Tiểu Ngân lập tức hít một hơi.
“Tam Vương Gia?”
Nhật Nguyệt cũng khựng lại.
Người tiện tay cứu nàng khỏi hồ sen, lại cùng nàng phối hợp trấn thủy quái hôm lễ tế thần sông.
Sở Tĩnh Hàn.
Hoàng Nhã Nhã đọc tiếp:
“Tam Vương Gia phụ trách kiểm soát thần lực, căn cơ chiến đấu, phối hợp nguyên tố, đồng thời ở Quốc Tử Giám dạy thi thơ. Đại Vương Gia phụ trách võ thuật, thân pháp, binh khí cơ bản, và hỗ trợ dạy khống chế thần tích ở Trùng Thiên Điện.”
Tiểu Ngân ngẩn ra.
“Đại Vương Gia dạy võ thuật? Vị Đại Vương Gia thích… khụ, thích thưởng hoa ngắm nguyệt ấy ạ?”
Hoàng Nhã Nhã liếc nàng.
Tiểu Ngân vội cúi đầu.
Nhật Nguyệt nhớ đến Sở Viên nhìn Hoàng Nhã Nhã đến quên trời đất ở lễ tế thần sông, khóe môi khẽ cong.
Hoàng Nhã Nhã nhận ra nàng cười, hỏi:
“Muội cười gì?”
“Không có gì.” Nhật Nguyệt lập tức nghiêm mặt. “Muội chỉ nghĩ Đại Vương Gia chắc võ công rất tốt.”
Hoàng Nhã Nhã bình tĩnh nói:
“Đại Vương Gia tuy phong lưu, nhưng là hoàng huynh của Quan gia, từ nhỏ học võ, thần tích kim khí cũng rất mạnh. Muội không được vì lời đồn bên ngoài mà xem nhẹ ngài ấy.”
Nhật Nguyệt gật đầu.
“Muội nhớ.”
Tiểu Trà đứng sau Hoàng Nhã Nhã nhìn nhị tiểu thư, rồi lại nhìn đại tiểu thư, cuối cùng âm thầm cúi đầu.
Nàng cảm thấy đại tiểu thư chắc chắn chưa nhận ra điều gì.
Nhưng Tiểu Trà nhận ra.
Hôm lễ tế, Đại Vương Gia nhìn đại tiểu thư nhà nàng rất kì lạ.
Kì lạ đến mức một nha hoàn như nàng cũng thấy.
Chỉ là đại tiểu thư quá bình tĩnh, có lẽ trong mắt nàng, Đại Vương Gia quan tâm hỏi một câu “có hao lực không” cũng chỉ là chiến hữu giữa trận chiến quan tâm vài câu hoặc là hoàng thất thể hiện sự quan tâm hậu ái với thế gia tiểu thư.
Tiểu Trà nghĩ, thôi, đại tiểu thư không thích phiền phức. Chuyện này hẳn không cần nói.
Nói ra có khi nàng sẽ bảo mình đem chổi quét sân viện thêm ba lần cho tỉnh táo.
Ba ngày sau, Hoàng Nhật Nguyệt chính thức nhập học Quốc Tử Giám.
Buổi sáng hôm ấy, phủ Thượng Thư náo nhiệt hơn thường ngày.
Hoàng phu nhân dậy từ sớm, tự tay kiểm tra y phục, túi sách, bình nước, hộp điểm tâm, khăn tay, thuốc phòng phong hàn, thuốc trị đau đầu, bánh ngọt nhỏ, áo choàng dự phòng, thậm chí còn chuẩn bị thêm một đôi giày mềm.
Nhật Nguyệt nhìn chiếc túi sách càng lúc càng đầy, hơi hoảng.
“Mẫu thân, con đi học, không phải chuyển nhà.”
Hoàng phu nhân vẫn đặt thêm một túi mứt sen nhỏ.
“Quốc Tử Giám học cả ngày, lỡ con đói thì sao?”
Hoàng Khánh Văn đứng bên cạnh, tay cầm một quyển sách.
“Đem thêm quyển Đại Sở Cung Đình Lễ Lược. Mới nhập học, biết thêm lễ nghi cung đình sẽ tốt.”
Hoàng Nhã Nhã bình tĩnh lấy bớt hai gói bánh ra khỏi túi.
“Mẫu thân, nhiều quá. Trọng lượng túi sách sẽ khiến Nguyệt Nhi mệt trước khi đến lớp.”
Hoàng phu nhân nhìn mấy túi bánh, có chút không nỡ.
“Vậy để lại một gói.”
Hoàng Nhã Nhã giữ lại gói nhỏ nhất.
Tiểu Ngân đứng cạnh, trên vai cũng đeo một túi nhỏ của nha hoàn, hưng phấn hơn cả chủ tử.
“Tiểu thư, nô tỳ được đi theo đến Quốc Tử Giám thật sao?”
Hoàng Nhã Nhã đáp:
“Nha hoàn thân cận được theo đến khu chờ bên ngoài, không được vào lớp chính nếu giáo thụ không cho phép. Nhưng giờ nghỉ có thể đến chăm sóc.”
Tiểu Ngân lập tức gật đầu:
“Nô tỳ sẽ chờ thật ngoan ngoãn.”
Hoàng Nhã Nhã nhìn nàng một thoáng.
“Ngươi mà ngoan thì Đông Kinh sẽ dậy sóng.”
Tiểu Ngân: “…”
Nhật Nguyệt không nhịn được cười.
Sáng hôm ấy, nàng mặc áo giao lĩnh màu xanh nhạt, bên ngoài khoác áo đối khâm trắng ngà thêu hoa văn sóng nước nhỏ ở tay áo, tóc buộc nửa đầu bằng dải lụa màu bạc lam, cài một cây trâm đơn giản. Hoàng phu nhân vốn muốn nàng mặc tươi tắn hơn, nhưng Hoàng Nhã Nhã nói ngày đầu đi học nên thanh nhã, không nên gây chú ý, dễ hoạt động, không cần quá nổi bật.
Dù vậy, khi nàng bước ra khỏi Nguyệt Liên Viện, cả phủ vẫn nhìn theo.
Hoàng Khánh Văn tiễn hai nữ nhi ra cổng.
Trước khi lên xe, ông nói với Nhật Nguyệt:
“Quốc Tử Giám là nơi học đạo làm người, không phải nơi khoe thần tích. Con vừa được ban ấn, bên ngoài có người tò mò, có người kính sợ, cũng sẽ có người ghen ghét. Hãy nhớ giữ vững tâm thái, đừng quá phô trương.”
Nhật Nguyệt cúi đầu:
“Con ghi nhớ lời phụ thân.”
Hoàng phu nhân nắm tay nàng.
“Nếu mệt thì về sớm. Đừng cố quá sức.”
Hoàng Nhã Nhã lập tức nói:
“Có con trông muội ấy, mẫu thân yên tâm.”
Hoàng phu nhân nhìn trưởng nữ, quả nhiên yên tâm hơn chút.
“Vậy hai con đi đi.”
Xe ngựa lăn bánh rời phủ.
Nhật Nguyệt ngồi trong xe, tay đặt lên túi sách và chiếc tráp gỗ đựng bút nghiên mực thạch, lòng vừa hồi hộp vừa háo hức.
Nàng thật sự đang được đi học lại.
Hơn nữa còn là Quốc Tử Giám của một quốc gia cổ phong huyền ảo, của một triều đại không có trong lịch sử nhưng lại mang đậm nét văn hóa Đại Việt xưa, mà nàng chỉ có thể nhìn qua những trang sách, nhưng ngay bây giờ đây nàng sắp được trải nghiệm thực tế nơi mà các sĩ tử ao ước được bước chân vào.
Nếu ở hiện đại có ai nói với nàng rằng một ngày nào đó nàng sẽ xuyên không, trở thành nhị tiểu thư phủ Thượng Thư, được Thánh Mẫu Thoải Tiên ban thần tích rồi vào học ở Trùng Thiên Điện, chắc nàng sẽ khuyên người đó bớt đọc truyện trước khi ngủ.
Vậy mà bây giờ, nàng đang ngồi trong xe ngựa.
Bên cạnh là tỷ tỷ.
Trên cổ tay là thần tích .
Và ngoài kia, tiếng Đông Kinh buổi sáng đang vang lên, mọi thứ chân thật đang hiện ra.
Quốc Tử Giám nằm ở phía bắc trục quan văn, gần Huyền Vũ môn hơn các khu náo nhiệt, nhưng vẫn không quá xa phủ Thượng Thư. Xe ngựa đi qua những con phố yên tĩnh hơn, nơi có nhiều học quán, nhà sách, chùa nhỏ, phủ đệ quan văn. Tiếng rao hàng thưa dần, thay vào đó là tiếng đọc sách vẳng từ các viện, tiếng chuông chùa xa xa, tiếng guốc gỗ gõ trên nền đá.
Khi xe dừng trước cổng Quốc Tử Giám, Nhật Nguyệt vén rèm nhìn ra.
Cổng lớn bằng gỗ sơn đỏ thẫm, phía trên treo hoành phi khắc ba chữ lớn: Quốc Tử Giám.
Hai bên cổng là nghê đá canh giữ, dáng uy nghi nhưng gần gũi, không giống sư tử Trung Hoa hung dữ mà mang nét Đại Việt rất rõ: thân chắc, đầu ngẩng, miệng cười như vừa nghiêm vừa hiền, trên lưng chạm hoa văn mây và lá đề.
Bên trong cổng là sân rộng lát gạch, cây đại thụ tỏa bóng, hồ nhỏ trồng sen, dãy nhà học mái ngói cong, hành lang dài, vườn bia ghi tên những học trò đỗ cao, thư lâu, võ trường, và xa hơn phía đông là một khu kiến trúc khác được tường thấp và cổng phụ ngăn riêng.
Hoàng Nhã Nhã chỉ về phía ấy.
“Đó là Trùng Thiên Điện.”
Nhật Nguyệt nhìn theo.
Trùng Thiên Điện không quá cao, nhưng khí thế khác hẳn các nhà học. Cổng đá khắc hoa văn mây, sấm, nước, cây, núi, lửa, kim loại, chim thú. Trên đỉnh cổng treo chuông đồng nhỏ. Hai bên có cờ lệnh của Khâm Thiên Giám và Quốc Tử Giám cùng bay. Không khí quanh đó tựa như dày hơn, yên hơn, thậm chí hơi lạnh nhẹ ở cổ tay Nhật Nguyệt.
Nàng khẽ nói:
“Nơi đó dạy thần tích?”
“Ừ.” Hoàng Nhã Nhã đáp. “Phía ngoài là Quốc Tử Giám dạy chữ nghĩa, lễ nghi, thi phú, địa chí, nhạc họa, võ thuật cơ bản. Phía đông là Trùng Thiên Điện, chỉ người có thần tích hoặc được đặc cách mới vào. Ở đó có sân khảo hạch căn cơ, thạch trụ đo thần lực, thủy trì, hỏa đàn, mộc trận, kim thất, sa bàn, võ trường riêng.”
Tiểu Ngân nghe mà mắt tròn xoe.
“Nghe như nơi tiên nhân luyện phép.”
Hoàng Nhã Nhã bình tĩnh:
“Nơi đó cũng là nơi học viên bị phạt đứng tấn nhiều nhất.”
Tiểu Ngân lập tức bớt mơ mộng.
Hai tỷ muội xuống xe.
Ngay khi Hoàng Nhật Nguyệt bước qua cổng, không ít ánh mắt lập tức nhìn sang.
Đó là chuyện khó tránh.
Nàng vốn là nhị tiểu thư phủ Thượng Thư, lại vừa thành nhân vật trong lời đồn toàn kinh thành. Học trò Quốc Tử Giám đều là con nhà quan lại, hoàng thân, thế gia, người có tài. Tin tức của họ còn nhanh hơn dân chúng. Ai cũng muốn xem người được Mẫu Thoải ban thần tích với ấn ký sen bạc trông như thế nào.
Nhật Nguyệt cảm nhận rõ ánh mắt từ bốn phía.
Có tò mò.
Có thiện ý.
Có ngưỡng mộ.
Có dò xét.
Có ghen ghét.
Nàng hít sâu, giữ lưng thẳng, bước đi chậm rãi bên cạnh Hoàng Nhã Nhã.
Đây là điều Hoàng Nhã Nhã dạy nàng cả tối hôm qua.
“Người khác nhìn muội vì họ tò mò. Muội càng hoảng, họ càng nhìn. Muội cứ đi như bình thường. Nếu ai chào, đáp lễ. Nếu ai nói xấu, nghe được thì nhớ mặt, chưa cần cãi. Nếu ai động tay, lập tức gọi ta.”
Nhật Nguyệt lúc đó hỏi:
“Nếu tỷ không ở gần?”
Hoàng Nhã Nhã đáp:
“Gọi Tiểu Ngân đánh trước, ta đến sau.”
Tiểu Ngân nghe vậy cảm động đến mức suýt quỳ xuống lĩnh mệnh.
Hiện tại, nàng đi sau hai vị tiểu thư, vẻ mặt nghiêm túc như hộ vệ nhỏ.
Khi đi qua sân chính, một nhóm thiếu nữ đang đứng dưới gốc cây nhìn nàng.
Trong đó có một cô nương mặc áo tứ diên vàng nhạt, gương mặt xinh đẹp kiêu kỳ, ánh mắt sắc xảo.
Đoan Mộc Hồng Sa.
Đích nữ Quốc Công phủ, mười lăm tuổi.
Nàng không có thần tích, nhưng tài học và gia thế đều nổi bật nên được vào Quốc Tử Giám. Đoan Mộc Hồng Sa từ nhỏ đã được nuôi dạy như viên ngọc quý của Quốc Công phủ, lễ nghi, cầm kỳ, thi họa đều xuất sắc, lại biết cách lấy lòng người lớn. Chỉ có đôi mắt đôi khi lộ ra sự tính toán không hợp với tuổi.
Nàng nhìn Nhật Nguyệt, nở nụ cười đoan trang.
“Hoàng đại tiểu thư, Hoàng nhị tiểu thư.”
Hoàng Nhã Nhã đáp lễ:
“Đoan Mộc tiểu thư.”
Nhật Nguyệt cũng cúi đầu:
“Đoan Mộc tiểu thư.”
Đoan Mộc Hồng Sa nhìn cổ tay áo Nhật Nguyệt, ý cười sâu hơn.
“Nghe danh Hoàng nhị tiểu thư sau lễ tế thần sông, hôm nay cuối cùng được gặp gỡ. Thần tích Nhạc Tiên Thánh Mẫu thật khiến người khác ngưỡng mộ.”
Lời nói như khen và ngưỡng mộ.
Nhưng Nhật Nguyệt nghe ra trong đó có gì đó kì lạ trong câu nói ấy.
Nàng mỉm cười đúng mực:
“Thần tích là ân đức của tiên thánh, cũng là trách nhiệm. Ta vừa thức tỉnh, còn phải học rất nhiều, không dám nhận hai chữ ngưỡng mộ.”
Đoan Mộc Hồng Sa hơi khựng.
Câu trả lời khiêm nhường mà không toát ra vẻ yếu thế, mà không hạ mình.
Hoàng Nhã Nhã nhìn muội muội, trong mắt có chút hài lòng.
Đoan Mộc Hồng Sa cười:
“Hoàng nhị tiểu thư khiêm tốn rồi. Sau này cùng là đồng học, mong được chỉ giáo nhiều hơn.”
“Không dám. Mong cùng tiến bộ.”
Hai người chỉ nói vài câu, nhưng Nhật Nguyệt đã cảm thấy vị Đoan Mộc tiểu thư này không hề đơn giản.
Hoàng Nhã Nhã không nói gì thêm, dẫn nàng đi tiếp.
Đi được một đoạn, Tiểu Ngân nhỏ giọng:
“Tiểu thư, Đoan Mộc tiểu thư cười đẹp như thế nhưng mà sao nô tỳ lại cảm thấy lạnh sống lưng nhỉ?”
Hoàng Nhã Nhã nói:
“Vì ngươi có con mắt biết nhìn người.”
Tiểu Ngân lập tức vui:
“Đại tiểu thư khen nô tỳ sao?”
“Ừ. Hôm nay đầu óc sáng sủa hơn mọi ngày.”
Tiểu Ngân không biết nên vui hay buồn.
Ngày học đầu tiên bắt đầu bằng lễ ghi danh.
Tân học viên được dẫn đến Văn Minh Đường, nơi các giáo quan Quốc Tử Giám ngồi. một gian đại sảnh rộng lớn với những hàng bàn gỗ trắc đỏ được sắp xếp thẳng tắp. Căn phòng này tập hợp một đội ngũ học tử vô cùng hiển hách và đa dạng.
Trên tường treo câu răn: Học để sửa mình, tài để giúp đời.
Nhật Nguyệt rất thích câu này.
So với những khẩu hiệu học để thi, học để đỗ, học để vinh thân, câu này khiến nàng thấy lòng nhẹ hơn.
Giáo quan phụ trách ghi danh là một vị nho sĩ ngoài năm mươi, râu điểm bạc, ánh mắt nghiêm nhưng không dữ. Ông họ Lê, mọi người gọi là Lê giáo quan.
Ông mở danh sách, gọi từng người.
“Sở Vy.”
Một cô bé mười hai tuổi đứng dậy.
Nàng mặc áo viên lĩnh màu hồng đào nhạt, tóc búi đôi nhỏ cài hoa bạc, gương mặt tròn đáng yêu, đôi mắt sáng, nhưng khi bước lên lại có chút rụt rè. Đây là nghĩa nữ của Đỗ Thái Hậu, được phong Quận Chúa, lớn lên bên cạnh Thái Hậu. Tính tình vui tươi, mơ mộng, nhưng sâu bên trong có phần hướng nội và dễ xấu hổ trước người lạ.
Nàng cúi đầu:
“Học trò Sở Vy có mặt.”
Lê giáo quan gật đầu.
“Sở Phan.”
Một cô bé khác đứng dậy nhanh đến mức suýt vấp ghế.
Nàng mười hai tuổi, là đích nữ Ung Thân Vương, mặc áo bán tí xanh lá non, mắt sáng như mèo con đang chuẩn bị nghịch phá. Vừa đứng lên, nàng đã cười:
“Học trò có mặt!”
Lê giáo quan nhìn nàng.
“Ở Quốc Tử Giám không được tự tiện đùa nghịch chạy loạn gây mất trật tự.”
Sở Phan lập tức mở to mắt.
“Giáo quan, con còn chưa làm gì mà.”
“Ta nhắc trước.”
Cả lớp có tiếng cười nhỏ.
“Sở Hân.”
Một cô bé mười tuổi đứng dậy, dáng vẻ hoàn toàn khác Sở Phan. Nàng mặc áo tứ diên trắng viền vàng nhạt thêu hoa mộc lan, tóc vấn gọn, cài trâm hình cây trúc điểm xuyến vài chiếc lá nhỏ, hành lễ đúng mực.
“Học trò Sở Hân có mặt.”
Lê giáo quan hài lòng gật đầu.
“Sở Ngọc Nhi.”
Một tiểu công chúa mười tuổi đứng lên, áo giao lĩnh màu lam nhạt, bên ngoài khoác đối khâm màu xanh tím thêu họa tiết vân mây cũng chim tước, gương mặt xinh xắn, ánh mắt lanh lợi. Nàng là Trưởng Lục Công Chúa, được Thái Hậu nuôi dưỡng, vừa trẻ con vừa có vẻ chững chạc hơn tuổi. Khi hành lễ, nàng làm rất đúng mực, nhưng vừa ngồi xuống đã quay sang trêu Sở Phan bằng ánh mắt, khiến Sở Phan suýt thì nhào sang chỗ Sở Ngọc Nhi để trả đũa.
“Sở Gia Huy.”
Sở Gia Huy đứng lên, áo viên lĩnh xanh thẫm thêu hoa văn lá trúc, dáng vẻ tiêu sái, cười rất tươi:
“Học trò có mặt.”
Lê giáo quan nhìn hắn thật lâu.
“Ngũ Vương Gia, hôm nay không mang sáo vào lớp thi thư.”
Sở Gia Huy lập tức sờ bên hông.
Ở đó quả nhiên có một cây sáo ngọc nhỏ.
Hắn cười vô tội:
“Giáo quan, sáo là vật tùy thân, chỉ là trang trí thôi mà.”
“Trong giờ học, đặt lên bàn giáo quan.”
“...Vâng.”
Sở Trọng Duy cúi đầu nhịn cười.
“Sở Trọng Duy.”
“Học trò có mặt.”
Sở Trọng Duy hành lễ rất chuẩn, giọng ôn hòa, khiến Lê giáo quan nhìn qua liền dịu đi nét mặt.
“Sở Tranh.”
Sở Tranh đứng dậy, trầm tĩnh:
“Học trò có mặt.”
Lê giáo quan gật đầu.
“Tử Hàn Long.”
Một thiếu niên mười sáu tuổi đứng dậy.
Tử Hàn Long mặc áo viên lĩnh màu xám xanh giản dị, dáng người thẳng, gương mặt tuấn tú nhưng nghiêm nghị, ánh mắt sắc sảo. Dù còn trẻ, khí chất đã có vẻ quyết đoán và nhiều mưu lược. Hắn hành lễ không thừa không thiếu, vừa nhìn đã biết là người tự kỷ luật cao.
“Học trò có mặt.”
“Tử Hàn Diệp.”
Một thiếu niên mười ba tuổi đứng lên sau hắn, dáng vẻ tươi sáng hơn hẳn. Tử Hàn Diệp mặc áo viên lĩnh trắng ngà viền xanh, mắt lanh lợi, vừa đứng dậy đã cười.
“Học trò có mặt.”
Lê giáo quan nhìn hắn.
“Hôm qua có phải ngươi lại trèo tường phía đông?”
Tử Hàn Diệp lập tức nghiêm mặt:
“Học trò chỉ khảo sát địa hình.”
“Khảo sát để làm gì?”
“Để phòng cháy… thoát thân?”
Lê giáo quan đặt bút xuống.
“Tử Hàn Diệp, chép nội quy Quốc Tử Giám ba lần.”
Tử Hàn Diệp há miệng.
Tử Hàn Long ngồi cạnh bình tĩnh nói:
“Đệ nên cảm ơn giáo quan. Ba lần ít hơn ta dự đoán.”
Tử Hàn Diệp quay sang huynh trưởng bằng ánh mắt bị phản bội.
Lớp lại cười.
“Đặng Anh Phi.”
Một thiếu nữ mười lăm tuổi đứng dậy. Nàng mặc áo viên lĩnh màu hạnh nhạt, dung mạo thanh tú, dịu dàng, ánh mắt có chút nhút nhát nhưng rất chân thành.
“Học trò Đặng Anh Phi có mặt.”
Khi nàng ngồi xuống, ánh mắt vô thức liếc về phía Sở Tranh.
Rất nhanh.
Nhanh đến mức người khác khó nhận ra.
Nhưng Nhật Nguyệt nhận ra.
Nàng nhớ lời Hoàng Nhã Nhã từng kể: Đặng Anh Phi phải lòng Sở Tranh sau lần được hắn cứu khỏi lợn rừng ở Lâm Trường.
Hiện tại, tình cảm ấy có lẽ mới chỉ là thiếu nữ đơn phương ngưỡng mộ. Nhật Nguyệt âm thầm ghi nhớ, không nhìn lâu.
“Trần Huy.”
Một thiếu niên mười tám tuổi đứng dậy.
Trần Huy dáng cao, thân hình luyện võ, mặc áo giao lĩnh xanh sẫm gọn gàng, gương mặt hòa nhã nhưng ánh mắt có phần thất thường khó đoán. Hắn là con nhà võ, đang theo cha luyện tập, với mong muốn sau này sẽ trở thành Đại Tướng Quân Cấm Nội Thành.
“Học trò có mặt.”
“Âu Dương Thần.”
Một thiếu niên mười bốn tuổi đứng lên, là con trai Uy Khoái Tướng Quân. Hắn mặc áo viên lĩnh nâu đỏ gọn, dáng võ sinh, mặt mày sáng sủa. Khi tên mình được gọi, hắn hành lễ rất nghiêm.
“Học trò có mặt.”
Nhưng lúc ngồi xuống, ánh mắt hắn vô thức tìm Sở Phan.
Sở Phan đang quay bút bằng ngón tay, hoàn toàn không biết mình được nhìn.
“Sở Phan!” Lê giáo quan quát.
Nàng giật mình, cây bút rơi xuống đất.
“Dạ!”
“Không quay bút.”
“Vâng…”
Âu Dương Thần lập tức cúi xuống nhặt bút giúp nàng. Sở Phan nhận lấy, cười nhỏ:
“Đa tạ.”
Âu Dương Thần tai đỏ lên.
Nhật Nguyệt nhìn thấy cảnh này, lòng thầm cảm thán: thanh mai trúc mã quả nhiên đáng yêu khi còn chưa biết yêu là gì.
“Đoan Mộc Hồng Sa.”
Đoan Mộc Hồng Sa đứng lên, lễ nghi hoàn mỹ.
“Học trò có mặt.”
“Dật Hoài Nam.”
Một thiếu niên mười bảy tuổi đứng dậy.
Dật Hoài Nam mặc áo giao lĩnh đen xanh, dáng cao, khí chất của con nhà tướng giữ biên cương. Hắn là con thứ nhà Bạch Hổ Tướng Quân, hiện đang học tại Quốc Tử Giám. Mặt hắn không quá lạnh, nhưng ánh mắt có nét trầm, như người từ nhỏ đã hiểu trách nhiệm nặng hơn sở thích.
“Học trò có mặt.”
Cuối cùng, Lê giáo quan nhìn danh sách.
“Hoàng Nhã Nhã.”
Hoàng Nhã Nhã đứng lên.
“Học trò có mặt.”
“Hoàng Nhật Nguyệt.”
Nhật Nguyệt đứng dậy.
Trong khoảnh khắc ấy, gần như cả lớp đều nhìn nàng.
Nàng giữ lưng thẳng, hai tay đặt trước bụng, cúi đầu đúng lễ:
“Học trò Hoàng Nhật Nguyệt có mặt.”
Lê giáo quan nhìn nàng hiền từ hơn một chút.
“Hoàng nhị tiểu thư vừa thức tỉnh thần tích, thân thể còn yếu, nếu trong giờ học thấy khó chịu phải báo ngay. Nhưng đã vào Quốc Tử Giám thì vẫn theo quy củ như mọi học viên khác, không được vì mới lập công mà tự mãn.”
Nhật Nguyệt cúi đầu:
“Học trò xin ghi nhớ.”
Lê giáo quan gật đầu.
“Ngồi xuống đi.”
Nàng ngồi cạnh Hoàng Nhã Nhã.
Tiết học đầu tiên của đời nàng ở Đại Sở Quốc cứ bắt đầu như thế.
Ngày thứ nhất ở Quốc Tử Giám.
Lê giáo quan giảng về quy tắc học đường: kính sư trưởng, hòa bạn học, không lấy thần tích trêu người, không dùng thân phận hoàng thân hay thế gia ép buộc học viên khác, không đánh nhau trong học đường, không tự ý vào Trùng Thiên Điện khi chưa có giáo thụ, không trèo tường, không thả rắn vào thư lâu, không giấu bánh trong nghiên mực, không dùng thần tích nhóm lửa nướng cá sau nhà học.
Nhật Nguyệt càng nghe càng thấy nội quy Quốc Tử Giám giống một bản ghi chép tội trạng quá khứ của nhiều thế hệ học viên.
Nàng nhỏ giọng hỏi Hoàng Nhã Nhã:
“Những điều đó đều từng có người làm sao?”
Hoàng Nhã Nhã bình tĩnh đáp:
“Phần thả rắn là Sở Phan năm ngoái.”
Sở Phan ở hàng trước lập tức quay đầu:
“Ta chỉ muốn xem giáo quan có sợ rắn không!”
Lê giáo quan lạnh giọng:
“Sở Phan.”
Nàng lập tức ngồi thẳng.
Hoàng Nhã Nhã tiếp tục:
“Giấu bánh trong nghiên mực là Tử Hàn Diệp.”
Tử Hàn Diệp quay đầu, oan ức:
“Ta khi đó đói quá.”
Tử Hàn Long lạnh nhạt:
“Đệ đói không có nghĩa là nhét bánh vào nghiên mực như thế, nghiên mực quý giá bị đệ khoét 1 lỗ to tướng.”
Nhật Nguyệt suýt bật cười.
“Còn dùng thần tích nướng cá?”
Hoàng Nhã Nhã liếc Sở Gia Huy.
Sở Gia Huy lập tức quay sang:
“Chuyện cũ rồi, đừng nhắc.”
Sở Trọng Duy bổ sung rất ôn hòa:
“Cá chưa chín, sân cháy một góc.”
Sở Gia Huy ôm ngực:
“Bát đệ, đệ càng ngày càng không nể mặt huynh.”
Không khí lớp học vì vậy bớt căng thẳng.
Sau buổi giảng quy củ là tiết lễ nghi.
Một nữ giáo thụ của Quốc Tử Giám, gọi là Tống giáo thụ, dạy cách hành lễ giữa các thân phận trong học đường. Vì lớp có hoàng thân, công chúa, quận chúa, thế gia, con quan, người có thần tích, người không có thần tích, nếu không quy định rõ, rất dễ loạn.
Tống giáo thụ nói:
“Trong cung, lễ quân thần không thể sai. Ngoài cung, hoàng thân vẫn là hoàng thân, thế gia vẫn là thế gia. Nhưng trong lớp học, trước mặt sư trưởng, tất cả đều là học trò. Học viên phải giữ lễ với hoàng thất, nhưng hoàng thất cũng không được tùy tiện lấy thân phận ép bạn học. Người có thần tích không được khinh người không có thần tích. Người không có thần tích cũng không được vì ghen ghét mà sinh lời ác.”
Nói đến đây, ánh mắt bà lướt qua mọi người.
Đoan Mộc Hồng Sa vẫn mỉm cười đoan trang.
Trần Huy cúi đầu nghe.
Dật Hoài Nam ngồi rất ngay thẳng.
Sở Gia Huy nhịn ngáp.
Tống giáo thụ lập tức nhìn hắn.
“Ngũ Vương Gia.”
Sở Gia Huy giật mình.
“Có học trò.”
“Nếu mệt, đứng lên nghe.”
“Không mệt ạ.”
“Vậy lặp lại câu vừa rồi.”
Sở Gia Huy chớp mắt.
“Người có thần tích không được khinh người không có thần tích. Người không có thần tích cũng không được vì ghen ghét mà sinh lời ác.”
Tống giáo thụ hơi ngạc nhiên.
“Ngươi nghe được?”
Sở Gia Huy cười:
“Học trò chỉ là mắt buồn ngủ, tai vẫn tỉnh.”
Cả lớp lại cười.
Tống giáo thụ cũng không nén được khóe môi, nhưng vẫn nói:
“Ngồi thẳng.”
“Vâng.”
Nhật Nguyệt cảm thấy vị Ngũ Vương Gia này thật sự có bản lĩnh khiến giáo thụ vừa muốn mắng vừa không mắng nổi.
Buổi trưa, học viên được nghỉ ở sân sau.
Quốc Tử Giám có khu dùng cơm riêng, nam nữ ngồi phân khu nhưng không cách biệt quá. Hoàng Nhã Nhã dẫn Nhật Nguyệt đến ngồi cùng nhóm nữ quyến: Sở Vy, Sở Phan, Sở Hân, Sở Ngọc Nhi, Đặng Anh Phi và vài tiểu thư khác.
Sở Vy ban đầu hơi ngại, nhưng Sở Phan đã kéo nàng tới rất tự nhiên.
“Hoàng nhị tiểu thư, hôm lễ tế ta có thấy tỷ cứu đứa bé kia! Dòng nước bay lên như lụa tơ tằm vậy, đẹp lắm!”
Sở Hân nhẹ giọng nhắc:
“Tỷ tỷ, nói nhỏ thôi.”
Sở Phan lập tức hạ giọng, nhưng sự hào hứng không giảm đi chút nào:
“Thật sự rất đẹp đó.”
Nhật Nguyệt cười:
“Lúc đó ta sợ đến mức không biết hình dạng ấy có đẹp hay không.”
Sở Ngọc Nhi chống cằm, chớp mắt:
“Ta cũng muốn có thần tích điều khiển nước. Sương mù của ta lúc nào cũng bị Ngũ ca nói giống nồi cháo bốc hơi.”
Sở Phan bật cười.
Sở Hân nói:
“Ngọc Nhi, thần tích tinh thần và sương mù của muội rất hiếm thấy đó.”
Sở Ngọc Nhi thở dài:
“Hiếm thì hiếm, nhưng không oai phong bằng sét của Tam ca. Mỗi lần Tam ca đứng ở Trùng Thiên Điện, học viên không cần giáo quan quát cũng im thin thít.”
Đặng Anh Phi ngồi bên cạnh khẽ nói:
“Tam Vương Gia vốn rất nghiêm khắc mà.”
Sở Phan lập tức quay sang:
“Anh Phi tỷ, tỷ thấy Tứ Vương Gia nghiêm hay Tam Vương Gia nghiêm hơn?”
Đặng Anh Phi khựng lại, tai hơi đỏ.
“Tứ… Tứ Vương Gia cũng nghiêm khắc.”
Sở Ngọc Nhi lập tức tinh quái nhìn nàng.
“Anh Phi tỷ đỏ mặt sao?.”
“Không có.”
“Có.”
Sở Hân bất đắc dĩ:
“Ngọc Nhi, đừng trêu tỷ ấy.”
Nhật Nguyệt nhìn nhóm cô nương tuổi còn nhỏ này, bỗng thấy không khí rất khác những cuộc đấu đá nàng từng lo sợ. Dĩ nhiên không phải ai ở Quốc Tử Giám cũng đơn thuần, nhưng ít nhất bàn ăn này có tiếng cười trong trẻo.
Đoan Mộc Hồng Sa ngồi ở bàn khác, thỉnh thoảng nhìn sang.
Nụ cười trên môi nàng vẫn dịu dàng, nhưng ánh mắt khi thấy Sở Vy, Sở Phan, Sở Ngọc Nhi nhanh chóng thân với Nhật Nguyệt thì tối đi một chút.
Hoàng Nhật Nguyệt mới đến ngày đầu, đã dễ dàng được hoàng thất nhỏ tuổi tiếp nhận.
Có những người không cần tranh mà vẫn được người khác yêu thích.
Đoan Mộc Hồng Sa ghét kiểu người ấy.
Buổi chiều ngày đầu tiên, Nhật Nguyệt được đưa đến Trùng Thiên Điện kiểm tra căn cơ.
Trùng Thiên Điện phía đông Quốc Tử Giám khác hẳn khu học chữ.
Vừa bước qua cổng đá, Nhật Nguyệt đã cảm nhận được không khí nơi này nặng và trong hơn. Trên sân lớn dựng tám thạch trụ, mỗi trụ khắc một loại hoa văn: thiên, địa, thủy, hỏa, mộc, kim, phong, linh. Ở giữa sân là một hồ nước tròn gọi là Thủy Trì, bên trái có Hỏa Đàn, bên phải là Mộc Trận trồng dây leo và cây thấp, xa hơn là Kim Thất, Sa Bàn, võ trường đá và một gian điện chính treo biển: Trùng Thiên Điện.
Các học viên có thần tích được tập hợp ở sân.
Sở Gia Huy, Sở Trọng Duy, Sở Tranh, Sở Vy, Sở Phan, Sở Hân, Sở Ngọc Nhi, Hoàng Nhã Nhã, Tử Hàn Long, Tử Hàn Diệp, Đặng Anh Phi, và Hoàng Nhật Nguyệt.
Một số học viên khác có thần tích kém hơn cũng đứng phía sau.
Không lâu sau, hai vị giáo thụ bước vào.
Sở Viên đến trước.
Hắn hôm nay mặc võ phục màu xám bạc, tay áo gọn, đai đen, tóc buộc cao, khác hẳn dáng vẻ phong lưu cầm quạt ở lễ tế. Khi không cười đùa, hắn quả thật có khí chất của hoàng huynh trưởng thành, dáng người mạnh mẽ, bước chân vững àng, mắt sáng.
Chỉ là ánh mắt hắn khi lướt qua Hoàng Nhã Nhã vẫn dừng lại lâu hơn một nhịp.
Hoàng Nhã Nhã hành lễ đúng mực:
“Bái kiến Đại Vương Gia.”
Các học viên cũng hành lễ.
Sở Viên ho nhẹ:
“Ở Trùng Thiên Điện, gọi ta là Sở giáo thụ hoặc Đại giáo thụ đều được. Hôm nay kiểm căn cơ, không cần quá câu nệ.”
Sở Gia Huy lập tức nhỏ giọng với Trọng Duy:
“Đại giáo thụ nghe thật kì cục.”
Sở Viên liếc hắn.
“Ngũ đệ, lát nữa đứng tấn thêm nửa canh giờ.”
Sở Gia Huy lập tức im.
Sau đó Sở Tĩnh Hàn đến.
Không khí lập tức thay đổi.
Hắn mặc áo võ phục màu đen xanh, tay áo hẹp, bên hông đeo kiếm, tóc buộc gọn bằng quan bạc. Gương mặt lạnh nhạt, ánh mắt sắc bén, bước vào sân như mang theo cơn gió lặng trước cơn bão.
Tất cả học viên theo bản năng đứng thẳng hơn.
Ngay cả Sở Phan cũng không dám nghịch đai váy lụa nữa.
Sở Tĩnh Hàn đứng trước mọi người, ánh mắt lướt qua từng học viên, cuối cùng dừng trên Nhật Nguyệt nửa nhịp rồi rời đi.
“Ta phụ trách kiểm tra khả năng điều tức, khống chế, giới hạn thần lực và phản ứng trước chiến trận. Sở Viên phụ trách thể lực, thân pháp, binh khí và phối hợp võ thuật. Ở đây, thân phận của các ngươi không giúp các ngươi ít đau hơn khi thần lực phản phệ. Ai không nghe lệnh, tự chịu hậu quả.”
Giọng hắn không lớn.
Nhưng cả sân im phăng phắc.
Nhật Nguyệt thầm nghĩ: Sở Ngọc Nhi nói đúng, Tam Vương Gia đứng đó thôi cũng đủ khiến người khác áp lực như bị hàng trăm tảng đá đè lên vậy, uy áp thật đáng sợ.
Sở Viên cười bổ sung:
“Tam giáo thụ nói hơi nghiêm trọng, nhưng đại ý vẫn là muốn các ngươi có thể sống lâu hơn một chút. Thần tích mạnh mà bản tâm người sở hữu nó lại yếu kém thì cũng như kiếm sắc trong tay trẻ nhỏ, chưa chém địch đã tự cắt vào mình.”
Sở Tĩnh Hàn liếc hắn.
Sở Viên bình thản cười.
Hai người một lạnh một hòa, kỳ lạ thay lại khiến bài giảng dễ nghe hơn.
Kiểm tra bắt đầu.
Từng học viên đặt tay lên thạch trụ tương ứng để đo căn cơ.
Sở Gia Huy đặt tay lên trụ Mộc.
Ấn ký sau gáy sáng lên, dây leo quanh Mộc Trận lập tức rung rinh, có vài nhánh còn vươn ra như muốn chào hắn. Thạch trụ hiện ánh xanh mạnh mẽ.
Sở Viên gật đầu:
“Mộc khí ổn định. Nhưng lực phân tán chưa ổn định. Ngươi thích làm ba việc cùng lúc nên thần lực cũng tản mạn không được ổn định.”
Sở Gia Huy ngạc nhiên:
“Thần lực cũng dựa vào tính cách sao?”
Sở Tĩnh Hàn lạnh nhạt:
“Thần lực đi theo tâm. Tâm ngươi thì lại phân tán khắp nơi không đọng lại hay tập trung được vào 1 điểm nào cả.”
Sở Gia Huy ôm ngực:
“Tam ca, lời này đau hơn đứng tấn.”
Sở Viên cười:
“Vậy lát nữa đứng tấn cho bớt đau.”
Sở Trọng Duy đang khảo hạch ở trụ Linh.
Ấn ký giữa cổ sáng lên. Thạch trụ hiện hình bóng mờ của vài loài thú: chim, báo, hươu, cá, sói, gấu. Sở Tĩnh Hàn nhìn kỹ.
“Thần tích biến hóa cần tâm cảnh duy trì ổn định. Ngươi có lòng nhân hậu mạnh mẽ, dễ bị cảm xúc chi phối nên năng lực tác động lên loài vật cũng bị ảnh hưởng. Khi khai mở ấn ký, không được để bản năng lấn át ý thức.”
Sở Trọng Duy nghiêm túc gật đầu.
“Học trò ghi nhớ.”
Sở Phan đang kiểm tra ở Mộc Trận.
Dây leo dưới tay nàng lập tức vọt lên nhanh đến mức quấn luôn vào tóc của Tử Hàn Diệp đứng gần đó.
Tử Hàn Diệp hét:
“Ấy! Tóc ta!”
Sở Phan hoảng loạn:
“Xin lỗi, xin lỗi!”
Sở Tĩnh Hàn lạnh giọng:
“Sở Phan, thu lực.”
“Muội đang thu đây!”
Dây leo càng quấn chặt.
Sở Gia Huy cười đến mức bị Sở Viên nhìn một cái liền im bặt.
Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!