Có những khởi đầu chỉ là một buổi sáng rất bình thường.
Khi tiếng chuông đồng cổ kính từ lầu cao của Quốc Tử Giám vang lên từng hồi trầm bổng, ngân nga xuyên qua những làn sương mù ban mai còn bảng lảng trên mặt sông Thủy Vân
Một tiếng gà gáy còn ngái ngủ phía sau bếp.
Một chậu nước ấm đặt bên giường.
Một chiếc túi sách được buộc lại bằng dây lụa, chiếc tráp gỗ đựng bút nghiên mực thạch.
Một cô nương mười bốn tuổi ngồi trước gương đồng, nhìn chính mình trong y phục học trò Quốc Tử Giám mà bỗng có cảm giác vừa buồn cười vừa khó tin.
Hoàng Nhật Nguyệt chống cằm nhìn bóng mình trong gương.
Nàng đã đi học được nửa tháng.
Nửa tháng.
Không dài.
Nhưng đủ để nàng từ một người vừa xuyên đến Đại Sở Quốc, còn nhìn mọi thứ như đứng ngoài màn sương, dần dần bắt đầu quen với tiếng chuông sớm của Quốc Tử Giám, quen với con đường từ phủ Thượng Thư đến Huyền Vũ học khu, quen với những con nghê đá trước cổng, quen với ánh mắt nghiêm khắc của Lê giáo quan, quen với giọng nói lạnh như nước giếng mùa đông của Sở Tĩnh Hàn khi hắn nói: “Làm lại”, và quen cả với tiếng kêu thảm thiết của Sở Gia Huy mỗi lần bị phạt đứng tấn.
Nàng từng nghĩ cuộc đời học sinh của mình đã vĩnh viễn khép lại sau khi bước chân vào xã hội cơm áo gạo tiền khốc liệt. Vậy mà giờ đây, sau một cú nhảy vọt của số phận xuyên không, nàng lại phải... đi học lại. Mà bạn học xung quanh nàng lúc này, không phải là những cô cậu sinh viên mặc áo thun quần jeans, mà là một dàn vương công quý tộc, công chúa, quận chúa của Đại Sở Quốc, xiêm y rực rỡ, lễ nghi mực thước.
Đời người đúng là nước chảy mây trôi.
Chảy một cái, mây trôi một cái, nàng từ thế kỷ hai mươi mốt trôi thẳng về Đại Sở Quốc.
Tiểu Ngân đứng phía sau chải tóc cho nàng, thấy tiểu thư nhìn gương hồi lâu không nói, liền hỏi:
“Tiểu thư, người đang nghĩ gì vậy?”
Nhật Nguyệt thở dài rất sâu.
“Ta đang nghĩ, hóa ra con người dù xuyên không vẫn không thoát được đi học.”
Tiểu Ngân khựng tay.
“Xuyên… gì cơ ạ?”
Nhật Nguyệt lập tức tỉnh.
“Không có gì. Ý ta là người sống trên đời, đã có duyên với sách vở thì đi đâu cũng phải học.”
Tiểu Ngân nghe xong, vẻ mặt ngờ ngệch.
“Tiểu thư nói nghe sâu xa quá.”
Nhật Nguyệt nhìn nàng qua gương, nghiêm túc gật đầu.
“Đúng vậy, vì ta vừa nghĩ đến bài thơ hôm qua bị Tam giáo thụ sửa đến không còn nhận ra hình hài.”
Tiểu Ngân lập tức đồng cảm:
“Hôm qua người chép lại đến tận canh hai. Nô tỳ nhìn cũng thấy đau tay thay người.”
“Đau tay không đáng sợ.” Nhật Nguyệt buồn bã nói. “Đáng sợ là ta đọc lại bản sửa của Tam giáo thụ, nhưng vẫn không hiểu gì cả.”
Nàng từng nghĩ mình ở hiện đại đọc nhiều thơ văn, sang cổ đại ít nhất cũng có chút ưu thế. Nhưng sau nửa tháng ở Quốc Tử Giám, Nhật Nguyệt nhận ra một sự thật phũ phàng: thích văn thơ và giỏi thi phú cổ điển là hai chuyện khác nhau.
Nàng có thể cảm được ý thơ.
Nhưng niêm luật, bằng trắc, đối ngẫu, điển cố, khí vận, tất cả những thứ ấy giống như một đám quan lại nghiêm khắc xếp hàng trong đầu nàng. Sai một chữ, Sở Tĩnh Hàn nhìn nàng một cái, nàng liền cảm thấy mình đã phụ lòng tổ tiên thi ca.
Tiểu Ngân vừa búi tóc vừa cười:
“Nhưng đại tiểu thư nói thơ của người có ý trên mặt chữ, như vậy là tốt mà.”
“Đại tỷ cũng nói luật chưa chỉnh chu.”
“Đại tiểu thư đã khen người rất nhiều rồi. Nếu đổi lại là Sở Phan Quận Chúa, chắc đại tiểu thư chỉ nói: ‘Đừng có biến bài thơ hữu tình thành bãi phân nữa.’”
Nhật Nguyệt không nhịn được bật cười.
Sau nửa tháng, nàng đã bắt đầu hiểu từng người trong lớp hơn một chút.
Sở Phan quả thật là một mầm cây nghịch ngợm mọc sai chỗ ở phủ thân vương. Nàng có thể tìm được trò vui trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Lễ nghi buồn tẻ, nàng nhìn ra hình dạng kỳ quái của bóng cây trên tường. Tiết địa chí, nàng tưởng tượng bốn cổng Đông Kinh là bốn con thú lớn đang ngủ. Trùng Thiên Điện luyện dây leo, nàng luôn có thể khiến dây leo quấn vào thứ không nên quấn: tóc của Tử Hàn Diệp, chân bàn của Sở Gia Huy, vạt áo của chính mình, thậm chí có lần suýt quấn vào đuôi áo của Sở Tĩnh Hàn.
Lần đó, cả sân Trùng Thiên Điện im như tờ.
Sở Phan tái mặt, dây leo cũng run.
May mà dây leo kịp dừng cách vạt áo Tam Vương Gia đúng nửa tấc.
Sở Tĩnh Hàn chỉ nhìn nàng, không nói gì.
Chính vì không nói, Sở Phan sợ đến mức hôm ấy luyện kiểm soát thần lực nghiêm túc nhất từ trước đến nay.
Còn Sở Hân thì trái ngược hoàn toàn.
Cô bé mười tuổi ấy tinh tế, điềm đạm, ít nói nhưng mà luôn là người có thể kéo Sở Phan từ trên mây trở về thực tại. Thần tích điều khiển cát của nàng chưa mạnh mẽ, nhưng ổn định nhất trong nhóm nhỏ tuổi. Mỗi lần Sở Phan gây rối, Sở Hân thường đứng bên cạnh thở dài như một vị trưởng bối mười tuổi đã nhìn thấu nhân gian.
Sở Ngọc Nhi thì giống một làn sương tinh nghịch.
Nàng là công chúa, được Thái Hậu nuôi dưỡng bên người từ nhỏ, mẫu phi của nàng mất khi sinh nàng, nàng tính tình trẻ con nhưng cũng biết quan sát sắc mặt người khác. Thần tích sương mù và tinh thần của nàng rất hiếm, nhưng hiện tại thường bị nàng dùng để trêu Sở Gia Huy, tạo ra “sương mờ hình người” trước mặt hắn, rồi dùng tinh thần lực khiến Sở Gia Huy rơi vào ảo giác nhìn đám sương hình người trước mặt cứ ngỡ là mỹ nhân mà buông lời trêu ghẹo, bị Sở Tĩnh Hàn phát hiện là cả 2 đều chịu phạt nặng.
Sở Vy lại trầm lặng hơn.
Quận Chúa nhỏ này ban đầu rất hướng nội trước Nhật Nguyệt, nhưng sau vài lần ngồi cùng bàn ăn trưa, nàng dần mở lòng. Sở Vy thích nghe chuyện đời thường ngoài cung, thích những món đồ thủ công nhỏ, thích hoa, thích mơ mộng về giang hồ dù bản thân chưa từng đi xa khỏi kinh thành. Nàng nói chuyện nhẹ nhàng, nhưng khi Sở Phan hoặc Sở Ngọc Nhi bị giáo quan mắng, nàng luôn là người âm thầm đưa khăn hoặc kéo tay áo an ủi.
Nhật Nguyệt rất thích nhóm tiểu cô nương ấy.
Ở bên họ, nàng có cảm giác mình thật sự trở lại tuổi học trò, dù trong lòng nàng vẫn là linh hồn hai mươi lăm tuổi.
“Tiểu thư, xong rồi.”
Tiểu Ngân cài cây trâm nhỏ cuối cùng lên tóc nàng.
Hôm nay Nhật Nguyệt mặc áo giao lĩnh màu vàng nhạt pha xanh non, bên ngoài khoác áo đối khâm trắng thêu hoa văn sóng nước rất mờ ở vạt áo. Không quá nổi bật, nhưng tươi sáng, hợp tiết trời đầu hạ. Tóc nàng búi nửa đầu, phần còn lại thả sau lưng, cổ tay trái đeo một dải lụa mỏng che bớt ấn ký sen bạc.
Từ sau lễ tế thần sông, ấn ký ấy không biến mất nữa.
Bình thường nó chỉ như một vết sen mờ dưới da, bạc nhạt, phải nhìn kỹ mới thấy. Nhưng mỗi khi nàng vận thần tích, từng cánh sen lại sáng lên, đẹp đến mức Tiểu Ngân lần đầu nhìn thấy đã há miệng rất lâu, sau đó nói:
“Tiểu thư, tay người như được trăng hôn lên ấy.”
Câu đó khiến Nhật Nguyệt nhớ mãi.
Nếu Tiểu Ngân chịu ngồi yên đọc sách, có khi nàng làm thơ còn có hồn hơn Sở Gia Huy.
Nàng đứng dậy, cầm túi sách và tráp gỗ.
“Đi thôi.”
Tiểu Ngân lập tức ôm hộp điểm tâm đuổi theo.
Hôm nay lại là một ngày đi học ở Đại Sở Quốc.
Quốc Tử Giám buổi sáng có vẻ đẹp rất riêng.
Khi mặt trời vừa vượt qua mái ngói phía đông, ánh sáng chảy xuống sân gạch như mật loãng. Những tán cây cổ thụ rũ bóng lên hành lang, tiếng chim hót lẫn trong tiếng học trò đọc bài. Hương giấy mới, mực tàu, gỗ cũ, trà nóng và hoa dại hòa vào nhau, tạo thành một thứ mùi khiến Nhật Nguyệt mỗi lần bước qua cổng đều có cảm giác lòng mình lắng xuống.
Ở hiện đại, trường học trong ký ức nàng là bảng đen, phấn trắng, đèn huỳnh quang, tiếng chuông điện tử, tiếng trống trường, bài kiểm tra, đề cương ôn thi, giáo trình in sẵn, phòng học nóng bức, những ngày vừa học vừa lo tiền.
Còn ở đây, học đường có tiếng guốc gỗ, tiếng bút lông chạm nghiên, tiếng mực thạch mài trên nghiêng đá, tiếng giáo quan đọc sách dưới mái ngói rêu phong. Nhưng áp lực thì thời nào cũng có.
Nhất là khi người dạy thi phú tên Sở Tĩnh Hàn.
Tiết đầu hôm ấy là địa chí.
Lê giáo quan giảng về các vùng đất phía nam Đại Sở, nơi sông ngòi chia nhánh, ruộng nước nhiều, dân sống bằng lúa, cá, dệt vải và buôn bán đường thủy. Ông nói về mùa nước, về việc triều đình phải chăm đê, mở kho lương, cấm quan lại địa phương ép dân phu quá mức. Nhật Nguyệt nghe say mê.
Lịch sử trong sách hiện đại thường khiến nàng tưởng tượng.
Còn lời giảng ở Quốc Tử Giám khiến nàng cảm thấy mình đang chạm vào một quốc gia đang thở.
Lê giáo quan nói:
“Người học địa chí không phải để nhớ tên phủ lộ hay quốc gia khác cho nhiều. Mà để biết dân ở nơi ấy ăn gì, mặc gì, sợ gì, mong gì. Làm quan mà không biết địa lý lộ phủ, không biết dân tình thế thái, thì chỉ là người ngồi trong phòng vẽ sông trên giấy.”
Câu ấy khiến Nhật Nguyệt ghi lại rất cẩn thận.
Nàng thích những lúc như vậy.
Thích cảm giác học không chỉ để thi, mà để hiểu đời sống.
Bên cạnh, Hoàng Nhã Nhã ghi chép gọn gàng, chữ đẹp như tranh, nét mực thanh tú. Nhật Nguyệt liếc sang, rồi nhìn lại chữ mình.
Nàng tự nhìn rồi cũng cảm thán 1 câu “cũng không xấu.”
Nhưng so với đại tỷ, chữ nàng như đứa trẻ vừa chạy qua ruộng bùn rồi cố đứng nghiêm.
Hoàng Nhã Nhã nhận ra ánh mắt nàng, khẽ nói:
“Muội nhìn bài ta làm gì?”
“Chữ của tỷ đẹp quá.”
“Nghe giảng trước. Tối về ta cho mượn vở.”
Nhật Nguyệt lập tức cười.
“Đại tỷ tốt nhất.”
Hoàng Nhã Nhã bình tĩnh đáp:
“Miệng ngọt cũng vẫn phải nghe giảng chép bài, bài tập thì tự làm.”
Nụ cười của Nhật Nguyệt đông lại.
Ngồi phía trước, Sở Gia Huy nghe được, quay xuống nhỏ giọng:
“Hoàng nhị tiểu thư, cô cũng bị đại tỷ quản học bài sao?”
Hoàng Nhã Nhã ngẩng mắt.
“Ngũ Vương Gia có cần ta thưa giáo quan không?”
Sở Gia Huy lập tức quay lên.
“Ta yêu địa chí. Ta đang nghe rất nghiêm túc.”
Sở Trọng Duy ngồi bên cạnh cúi đầu cười đến vai run.
Tử Hàn Diệp phía sau lẩm bẩm:
“Quốc Tử Giám có hai người không nên chọc: Tam Vương Gia và Hoàng đại tiểu thư.”
Tử Hàn Long lạnh lùng bổ sung:
“Còn Lê giáo quan.”
Lê giáo quan trên bục ngẩng đầu:
“Và Tử Hàn Long, vì hắn sẽ nhắc đúng lúc ta nghe thấy.”
Tử Hàn Diệp: “…”
Cả lớp cười rộ.
Lê giáo quan gõ nhẹ thước xuống bàn.
“Cười đủ rồi thì ghi tiếp. Phần này ngày mai kiểm tra.”
Tiếng cười lập tức biến thành tiếng bút lông trên giấy vội vã.
Nhật Nguyệt cúi đầu ghi bài, khóe môi vẫn cong.
Đi học lại, hóa ra thật sự rất thú vị.
Nhưng những khoảnh khắc như thế này khiến nàng thấy mình trẻ lại không chỉ vì thân xác, mà vì linh hồn cũng đang được sống lại 1 lần vậy.
________________________________________
Buổi chiều là tiết ở Trùng Thiên Điện.
Đó mới là nơi khiến Nhật Nguyệt vừa mong vừa sợ.
Sau nửa tháng luyện tập, nàng đã có thể làm nước trong Thủy Trì dâng lên đúng một tấc, giữ được mười nhịp thở mà không đóng băng, không khiến những đàn cá tụ tập quanh nàng, không khiến mặt nước bắn tung tóe khắp nơi. Đây là thành tựu rất lớn, ít nhất với nàng.
Nhưng Sở Tĩnh Hàn không phải người dễ dàng như thế.
Ngày đầu tiên nàng giữ được ba nhịp, hắn nói: “Tạm.”
Ngày thứ năm giữ được sáu nhịp, hắn nói: “Chưa đủ.”
Ngày thứ mười giữ được tám nhịp, hắn nói: “Tâm cảnh chưa ổn định.”
Hôm nay, khi nàng giữ được mười nhịp, mặt nước hạ xuống nhẹ nhàng, không một gợn sóng, nàng ngẩng đầu nhìn hắn bằng ánh mắt chờ đợi rất kín đáo.
Sở Tĩnh Hàn đứng bên cạnh Thủy Trì, áo võ phục màu xám đen, tay áo hẹp, tóc buộc cao, gương mặt vẫn lạnh nhạt.
Hắn nhìn mặt nước, rồi nhìn nàng.
“Có tiến bộ.”
Ba chữ.
Nhật Nguyệt lập tức cảm thấy nửa tháng bị ướt sũng vì nước mất kiểm soát, băng phản phệ, cá tụ tập vây quanh nàng, cảm lạnh vì ướt, cổ tay buốt giá vì tiêu hao thần lực, tất cả đều không còn khó khăn gì nữa.
Nàng cúi đầu, khóe môi không nhịn được mà cong cong:
“Đa tạ giáo thụ chỉ điểm.”
Sở Tĩnh Hàn nói:
“Đừng vui mừng quá sớm. Hôm nay tăng cấp độ lên.”
Niềm vui của Nhật Nguyệt lập tức có linh cảm xấu.
“Tăng cấp độ?”
“Hóa hình.”
“Hóa hình?”
Sở Tĩnh Hàn đưa tay lên.
Không khí quanh Thủy Trì hơi động, gió nhẹ lướt qua mặt nước.
“Điều khiển nước không phải chỉ nâng lên hạ xuống. Nước có hình mà cũng vô hình. Khi cần cứu người, nó là dây. Khi cần chắn đòn, nó là khiên. Khi cần tấn công, nó là roi, là kiếm, là mũi tên. Khi cần chữa cháy, nó là những hạt mưa. Hôm nay ngươi thử tạo một dải nước dài bằng cánh tay, giữ nó không rơi trong năm nhịp.”
Nhật Nguyệt nhìn mặt nước.
Nghe thì đơn giản.
Nhưng sau nửa tháng, nàng đã hiểu: bất cứ điều gì Sở Tĩnh Hàn nói “thử” đều không đơn giản như những gì tưởng tượng trong đầu.
Nàng đặt tay lên Thủy Trì.
Đóa ngân liên trên cổ tay sáng lên.
Nước từ từ dâng lên theo dòng thần lực nàng truyền tới.
Nàng cố kéo dòng nước thành một dải dài.
Dải nước vừa lên khỏi mặt hồ đã cong queo như con tôm vừa được hấp trong nồi.
Sở Gia Huy đứng cách đó không xa đang luyện dây leo, thấy vậy liền vui vẻ:
“Giống sợi bánh canh quá vậy.”
Sở Tĩnh Hàn không quay đầu:
“Sở Gia Huy, dây leo của ngươi đang quấn vào chân Sở Trọng Duy.”
Sở Gia Huy giật mình quay lại.
Quả nhiên dây leo của hắn đang lặng lẽ bò tới cổ chân Bát đệ.
Sở Trọng Duy cúi đầu nhìn, bình tĩnh nói:
“Ngũ ca, huynh tập trung điều khiển mớ dây leo của huynh đi trói gì cũng được, đừng trói đệ.”
Sở Gia Huy vội thu thần lực, dây leo cũng trở về.
Nhật Nguyệt bị phân tâm, dải nước rơi tõm xuống hồ.
Sở Tĩnh Hàn nhìn nàng.
“Trong chiến trận, không ai chờ ngươi thi triển hoàn toàn xong mới đánh.”
Nhật Nguyệt lập tức đứng nghiêm.
“Thần nữ biết lỗi.”
Hắn không mắng thêm.
“Làm lại.”
Nàng làm lại.
Lần thứ hai, dải nước dài hơn nhưng đứt đoạn giữa chừng.
Lần thứ ba, dải nước giữ được hình thù nhưng mềm oặt.
Lần thứ tư, nó bất ngờ đóng băng thành một que băng rơi xuống, suýt đập vào chân nàng.
Sở Tĩnh Hàn nhanh tay dùng gió hất nó sang một bên.
“Ngươi lại để mất khống chế.”
Nhật Nguyệt thở ra, trán rịn mồ hôi.
“Thần nữ thấy nước sắp rơi nên…”
“Thẩy rơi bình tĩnh mà điểu chỉnh nhịp thở. Sợ hãi tất loạn.”
Câu ấy không chỉ đúng với thần tích.
Nhật Nguyệt bỗng ngẩn ra.
Ở hiện đại, nàng cũng luôn sợ. Sợ làm mẹ buồn. Sợ em thất vọng. Sợ cha mắng. Sợ thiếu tiền. Sợ chọn sai đường.
Sợ mọi thứ rơi xuống nên lúc nào cũng cố giữ, cố níu, cố đỡ, cuối cùng chính nàng lại mệt đến mức không thở nổi.
Sở Tĩnh Hàn thấy nàng im lặng, hỏi:
“Hiểu chứ?”
Nàng gật đầu chậm rãi.
“Hiểu.”
“Vậy làm lại.”
Lần thứ năm, nàng không vội.
Nước dâng lên từ Thủy Trì, mỏng như dải lụa. Nó hơi run trong không gian, nhưng không đứt. Nhật Nguyệt không cố gắng kéo dài nó ra, cũng không cố gắng giữ nó quá chặt. Nàng chỉ điều chỉnh nhịp thở của bản thân, để thần lực tuôn chảy như dòng suối nhẹ nhàng luồng qua những nơi còn thiếu sót rồi làm nó đầy lên.
Một nhịp.
Hai nhịp.
Ba nhịp.
Bốn nhịp.
Năm nhịp.
Dải nước rơi xuống, tan vào mặt hồ.
Lần này, không đóng băng. Không vỡ giữa không trung. Không bắn đi khắp nơi.
Sở Tĩnh Hàn gật đầu.
“Tốt.”
Vẫn chỉ ngắn gọn một chữ.
Nhưng Nhật Nguyệt đã quen rồi.
Với Tam giáo thụ, “tốt” đã là hoa nở đầu xuân.
Ở góc bên kia lôi đài, đại tỷ Hoàng Nhã Nhã đang luyện tập bẻ cong không gian để dịch chuyển những mũi tên gỗ do Đại Vương Gia Sở Viên bắn tới. Nhã Nhã mặc bộ võ phục màu xanh ngọc nhạt phẳng phiêu tuyệt đối, không một sợi tóc mai nào lệch vị trí.
Mỗi lần một mũi tên bay đến, nàng lại phất tay áo tạo ra một khe nứt không gian nhỏ, nuốt chửng mũi tên rồi thả nó rơi xuống một chiếc giỏ đựng đặt cạnh chân một cách vô cùng gọn gàng, sạch sẽ, ngăn nắp. Sở Viên đứng phía xa, ánh mắt như có muôn vạn vì sao dõi theo từng cử động của nàng, thỉnh thoảng lại cố tình vung tay biểu diễn những chiêu thức võ thuật dũng mãnh, oai phong nhằm thu hút sự chú ý của người ấy, nhưng đáp lại ngài chỉ là gương mặt lạnh lùng, sự tập trung vào bài luyện tập của nàng. Khung cảnh dở khóc dở cười ấy khiến Nhật Nguyệt thầm lắc đầu cười khổ.
Ở Mộc Trận, Sở Phan hôm nay cũng có tiến bộ. Dây leo của nàng cuối cùng đã có thể quấn đúng cọc gỗ thay vì quấn nhầm vào người khác. Sở Hân dùng cát tạo thành một hàng rào nhỏ vững vàng hơn trước. Sở Ngọc Nhi luyện sương mù thành tấm màn che, lần này không bao bọc che hết luôn mặt Sở Gia Huy nữa mà che đúng khu vực được chỉ định.
Sở Trọng Duy luyện khai mở ấn ký nhưng không phóng thần lực ra ngoài.
Đây là bài tập khó với hắn, vì thần tích của Cô Chín Sòng Sơn liên quan đến biến hóa và sử dụng bản năng các loài vật. Chỉ cần tâm cảnh hơi động, mắt hắn có thể hóa thành mắt chim, tay tăng sức như gấu, hoặc tai nghe xa như hươu. Sở Tĩnh Hàn yêu cầu hắn chỉ mở ấn ký, cảm nhận thần lực tuôn chảy khắp cơ thể, nhưng không để bất kỳ đặc tính nào lộ ra.
Sở Trọng Duy đứng trước trụ Linh, cổ áo hơi mở để lộ ấn ký giữa cổ. Ấn ký sáng lên.
Một vòng sáng mờ lan ra rồi bị hắn ép lại. Trán hắn rịn mồ hôi.
Sở Tĩnh Hàn đi tới, nói:
“Không phải ép nó đến chết. Là giữ nó trong lồng.”
Sở Trọng Duy nhắm mắt, nhịp thở dần chậm lại.
Ánh sáng quanh ấn ký ổn định hơn. Không còn chớp tắt lập lòe
Không có mắt thú. Không có móng vuốt. Không có tiếng gầm.
Chỉ có thần lực nằm yên dưới da như một con thú lớn được thuần phục tạm thời.
Sở Tĩnh Hàn gật đầu.
“Khá tốt.”
Sở Trọng Duy mở mắt, thở nhẹ:
“Đa tạ Tam ca.”
“Trong giờ học, gọi giáo thụ.”
“Vâng, giáo thụ.”
Sở Gia Huy đứng gần đó nhỏ giọng:
“Tam ca nghiêm khắc đến mức chữ ca cũng không cho gọi.”
Sở Tĩnh Hàn nói:
“Sở Gia Huy.”
Hắn lập tức đứng thẳng:
“Học trò đang luyện điều khiển dây leo thưa giáo thụ.”
“Dây leo của ngươi đang quấn lấy điểm tâm của nha hoàn Hoàng nhị tiểu thư.”
Mọi người đồng loạt quay đầu.
Một nhánh dây leo xanh đang lén lút bò về phía hộp bánh Tiểu Ngân đặt ngoài khu chờ.
Tiểu Ngân trợn mắt.
“Sở… Ngũ Vương Gia!”
Sở Gia Huy vội thu dây, vẻ mặt cực kỳ vô tội.
“Ta thề không phải ta cố ý. Dây leo nó bị mất khống chế chút thôi.”
Sở Viên từ võ trường đi qua, nghe thấy liền cười:
“Thần tích đi theo tâm cảnh người sở hữu. Tâm cảnh của ngươi đang thèm bánh sao.”
Sở Gia Huy ôm ngực:
“Đại ca, sao huynh cũng giống Tam ca vậy?”
Sở Viên cười:
“Vì chúng ta đều hiểu tính ngươi.”
Cả Trùng Thiên Điện cười rộ.
Ngay cả Sở Tĩnh Hàn cũng không mắng nữa, chỉ quay lưng đi, khóe môi dường như rất nhẹ cong một cái. Nhưng quá nhanh, nhanh đến mức Nhật Nguyệt tưởng mình nhìn nhầm.
Nàng cúi đầu nhìn dải nước trong tay mình.
Nửa tháng trước, nàng còn không thể kiểm soát được nó.
Bây giờ, nàng đã bắt đầu điều khiển được nó.
Thần tích của nàng không phải thứ từ trời rơi xuống để nàng trở nên đặc biệt trong mắt người khác. Nó là một phần trong cơ thể mới, một thứ nàng phải học cách sống chung. Giống như học đi lại sau khi tỉnh dậy ở Đại Sở, học gọi người khác là phụ thân mẫu thân, học lễ nghi, học viết chữ.
Tất cả đều là khởi đầu.
________________________________________
Sau mấy ngày học liên tiếp, cuối cùng Quốc Tử Giám được nghỉ nửa ngày vì các giáo quan phải họp với Khâm Thiên Giám về việc khảo hạch thần tích định kỳ.
Sở Phan vừa nghe tin đã vui như chim sổ lồng.
“Nghỉ nửa ngày! Chúng ta đi dạo phố đi!”
Sở Hân lập tức kéo tay áo tỷ tỷ:
“Phụ vương dặn không được tự ý đi lung tung.”
Sở Phan chớp mắt:
“Chúng ta không lung tung. Chúng ta có mục tiêu rõ ràng.”
Sở Ngọc Nhi hào hứng:
“Mục tiêu là gì?”
“Mua sắm và thưởng thức mỹ vị nhân gian.”
Sở Hân: “…”
Sở Vy đứng bên cạnh, muốn cười nhưng sợ Sở Phan sẽ ngại, nên đành kiềm chế nụ cười.
Sở Phan quay sang Nhật Nguyệt:
“Nhật Nguyệt tỷ, tỷ đi không? Ta biết một tiệm bánh hòn ngon lắm gần Thanh Long môn. Còn có cửa tiệm bán chuồn chuồn tre, mặt nạ nghê, vòng kết chỉ. Chúng ta chỉ đi một lát thôi.”
Nhật Nguyệt hơi do dự.
Nàng đã quen quanh quẩn trong khu viện của phủ Thượng Thư hoặc có đi dạo phố thì đi cùng với Hoàng Nhã Nhã, nhưng tự đi chơi cùng nhóm quận chúa công chúa nhỏ tuổi thì đây là lần đầu.
Hoàng Nhã Nhã hôm nay phải ở lại Trùng Thiên Điện làm bài kiểm tra riêng về không gian thần tích, không thể đi cùng nàng.
Sở Vy nhìn ra sự do dự của nàng, nhẹ giọng:
“Nếu Nhật Nguyệt tỷ có việc bận thì không sao. Chúng ta hôm khác cũng được.”
Sở Phan lập tức gật đầu dù gương mặt không giấu được vẻ tiếc nuối:
“Đúng, hôm khác cũng được.”
Sở Ngọc Nhi thì nhìn nàng bằng đôi mắt trông đợi, nhưng vẫn cố tỏ ra là không sao cả:
“Thái Hậu cũng dặn ta không được ham chơi quá.”
Cả ba cô bé đều đáng yêu đến mức Nhật Nguyệt không nỡ từ chối.
Nàng nghĩ một chút.
“Ta đi được. Nhưng phải có nha hoàn, hộ vệ đi theo. Không chơi ở gần bờ sông vắng người, không chen vào chỗ đông người, không ăn quá nhiều đồ ăn vặt.”
Sở Phan lập tức reo hò:
“Ta đồng ý!”
Sở Hân nhìn nàng với vẻ mặt hớn hở không kém.
Sở Ngọc Nhi cũng kéo cung nữ đi cùng.
Sở Vy có Tiểu Xuân — cung nữ thân cận mười lăm tuổi, tính tình nhẹ nhàng, rất ngoan ngoãn và vâng lời. Tiểu Xuân nghe nói đi phố, vội kiểm tra khăn tay, túi bạc, thuốc cảm lạnh, áo choàng mỏng, vẻ mặt và động tác không khác gì Tiểu Ngân phiên bản trong cung.
Sở Phan và Sở Hân cũng có nha hoàn cùng hộ vệ phủ Ung Thân Vương.
Vậy là một nhóm thiếu nữ nhỏ tuổi rời Quốc Tử Giám, đi xe ngựa đến khu phố gần Thanh Long môn.
Nắng hạ nhạt dần, nhường chỗ cho những cơn gió mang hơi ẩm mát rượi từ sông thổi vào. Đông Kinh buổi xế chiều không quá náo nhiệt, nhưng vẫn khiến người khác cảm thấy được nhịp thở của Đông Kinh.
Không đông nghịt người như ngày đại lễ tế thần sông, nhưng vẫn có tiếng người huyên náo, tiếng xe ngựa lộc cộc trên nền đá, tiếng rao của những gánh hàng rong, tiếng mái chèo từ bến thuyền vọng lại. Nắng nghiêng trên mái ngói, cờ quán trà lay nhẹ trong gió, mùi bánh nếp thơm ngọt ngào, cá nướng nóng hổi thơm khắp ngõ hẻm, trà nóng và hương trầm len vào gió mà trải khắp Đông Kinh.
Sở Phan như cá gặp nước.
“Đi bên này! Quán bánh ở đây!”
Sở Hân kéo tay nàng:
“Tỷ chậm thôi.”
“Ta đi chậm rồi mà.”
“Tỷ đang kéo muội mà muội như đang bay theo nhịp chạy của tỷ đây.”
Sở Vy bật cười.
Nhật Nguyệt đi phía sau, nhìn hai tỷ muội Ung Thân Vương, lòng dịu đi rất nhiều.
Sở Ngọc Nhi thì vừa đi vừa nhìn các sạp hàng, cái gì cũng muốn xem. Khi thấy một sạp bán mặt nạ gỗ hình nghê, hổ, chim Lạc và thuồng luồng, nàng lập tức kéo Nhật Nguyệt lại.
“Nhật Nguyệt tỷ, nhìn con nghê này cười giống Ngũ ca không?”
Sở Phan nhìn qua, cười ngã vào vai Sở Hân.
“Giống thật! Nhất là cái miệng!”
Sở Hân cố nhịn cười:
“Các người không sợ Ngũ Vương Gia nghe thấy sao.”
Sở Ngọc Nhi nghiêm túc:
“Nghê là linh vật canh giữ, xua tà, đâu có xấu.”
Nhật Nguyệt cầm một chiếc mặt nạ nghê nhỏ lên xem.
Gỗ được khắc đơn giản nhưng có thần thái, miệng nghê hơi hé, mắt tròn, dáng vừa uy vừa gần gũi. Nàng nhớ đến tư liệu về nghê Đại Việt mà mình từng đọc: khởi từ chó đá, canh giữ đình chùa, xua tà, khác với lân Trung Hoa. Ở Đại Sở, nghê cũng xuất hiện trước cổng Quốc Tử Giám, chùa, phủ quan, và cả đồ chơi dân gian.
Nàng mỉm cười.
“Ta thấy nghê này đáng yêu.”
Sở Ngọc Nhi lập tức mua một chiếc.
“Ta sẽ tặng Ngũ ca.”
Sở Phan cười tinh quái:
“Nhớ nói là giống huynh ấy.”
Sở Hân thở dài:
“Tỷ tỷ, như vậy sẽ bị Ngũ Vương Gia giận đấy.”
Sở Ngọc Nhi suy nghĩ.
“Vậy ta sẽ nói nghê này oai phong giống Ngũ ca.”
Nhật Nguyệt gật đầu tán thành:
“Cách nói đó thì Ngũ Vương Gia có vẻ sẽ vui hơn đấy, dù sao thì ngài ấy cũng rất thích được khen mà.”
Cả nhóm cười rộ.
Tiểu Ngân đứng sau lẩm bẩm:
“Tiểu thư càng ngày càng biết nói đùa.”
Tiểu Xuân mỉm cười:
“Nhị tiểu thư nói như vậy cũng khiến Quận Chúa nhà ta cũng vui hơn.”
Nhật Nguyệt nghe thấy, nhìn sang Sở Vy.
Sở Vy quả thật đang cười rất tươi.
Cô bé này ở trong cung được Thái Hậu thương yêu, nhưng cung đình nhiều lễ nghi, khó có thể chạy nhảy tự nhiên như Sở Phan. Hôm nay được ra phố cùng bạn học, cả người nàng như đóa hoa nhỏ gặp nắng.
Sau khi mua mặt nạ, họ đến quán bánh hòn mà Sở Phan nhắc.
Quán nhỏ nhưng sạch sẽ, thoáng mát, chủ quán là một phụ nhân trung niên, thấy nhóm tiểu thư quận chúa đi cùng hộ vệ liền hơi luống cuống. Sở Hân rất tinh tế, nhẹ giọng trấn an:
“Chúng ta chỉ mua ít bánh mang đi, không cần quá phiền phức.”
Sở Phan gọi bánh hòn, bánh ít, bánh trôi mật.
Nhật Nguyệt vừa nghe bánh trôi mật thì mắt sáng lên nhưng rất nhanh lại thu về.
Sở Hân lập tức nhìn nàng:
“Nhật Nguyệt tỷ, tỷ cũng thích bánh trôi mật sao? Vậy ta mua thêm vài hộp nha tỷ mang về phủ Thượng Thư làm điểm tâm sau bữa tối được không?.”
Nhật Nguyệt nhìn Sở Hân đề nghị như thế liền vui vẻ giơ tay về phía Tiểu Ngân ý bảo đưa túi bạc cho nàng để nàng đưa bạc cho Sở Hân.
“Tiểu thư! Người không sợ sẽ bị Đại tiểu thư tịch thu sao, mua nhiều như thế Đại tiểu thư chắc chắn sẽ không cho người ăn hết đâu”
Nhật Nguyệt nghe như thế liền xụ mặt, nhưng lại kéo tay Tiểu Ngân thì thầm
“Muội giấu giúp ta đi, chỉ hôm nay thôi. Được không?”
Tiểu Ngân bất lực đành gật đầu thuận theo ý nàng, tay cũng móc túi bạc đưa đến cho nàng.
Sở Ngọc Nhi cắn bánh hòn, nói:
“Vậy Hân tỷ thật tốt, ta chỉ có thể ăn ngay lúc này thật nhiều thôi, đem về cung sẽ bị mẫu hậu sai người đem đi hết mất.”
Nhật Nguyệt nhìn hai viên bánh trôi trong bát mình. Chậm rãi thưởng thức. Vị mật ngọt tan ra trên đầu lưỡi.
Bánh nếp dẻo mềm. Đậu xanh thơm. Nàng nhắm mắt thở ra thỏa mãn, nếu ở hiện đại nàng sẽ không thể nào tìm ra được hương vị thuần túy này, vị nếp tươi dẻo mềm không hề có chút phẩm hóa chất nào, nhân đậu ngọt ngào thơm lừng, hoàn toàn làm thủ công từ chủ tiệm bánh, thật sự là rất ngon.
Sở Vy nhìn nàng, cười hỏi:
“Ngon lắm sao?”
“Rất ngon.” Nhật Nguyệt nói thật. “Đồ ngọt làm tâm trạng tốt lên mà, với lại hương vị này cũng rất là tuyệt vời.”
Sở Phan lập tức giơ bát:
“Nhật Nguyệt tỷ nói đúng! Ta tán thành!”
Sở Hân bất đắc dĩ:
“Nhưng cũng không thể ăn quá nhiều, ăn nhiều quá sẽ chướng bụng đó, bữa tối sẽ không ăn được nữa đâu.”
Sở Phan rầu rĩ:
“Hân Nhi, muội thật sự mới mười tuổi sao? Sao ta thấy muội giống mẫu phi vậy?”
Sở Hân bình tĩnh:
“Vì tỷ lúc nào cũng ăn vặt rất nhiều trước bữa tối, bị mẫu phi nhắc nhở hoài mà có được tỷ nghe vào tai đâu.”
Nhật Nguyệt cười đến suýt sặc. Tiểu Ngân vội đưa trà.
“Tiểu thư, ăn chậm thôi.”
Bọn họ ăn xong, lại đi dạo qua phố bán đồ thủ công.
Nhật Nguyệt dừng trước một sạp bán chỉ màu, vải vụn, hạt gỗ, vỏ sò, ngọc nhỏ, dây kết, quạt trắng và khung thêu mini.
Nàng lập tức bị hút mắt.
Ở hiện đại, nàng thích làm đồ thủ công. Xuyên đến đây, mấy hôm bận học và dưỡng bệnh, nàng chưa có thời gian chạm lại sở thích ấy. Bây giờ nhìn thấy cả sạp vật liệu, tay nàng ngứa lên.
Sở Vy nhận ra:
“Nhật Nguyệt tỷ thích mấy thứ này?”
“Ừ. Ta thích làm mấy món đồ nhỏ nhắn dễ thương.”
“Như túi thơm sao?”
“Túi thơm, vòng tay, dây kết, trâm cài đơn giản, quạt vẽ… đều được, nếu có hạt châu nhỏ thì ta cũng có thể kết chúng thành những hình thù hoặc trang sức đấy.”
Sở Ngọc Nhi lập tức sáng mắt:
“Tỷ biết làm vòng kết chỉ sao? Ta muốn học!”
Sở Phan cũng hào hứng:
“Ta muốn làm roi kết dây, có thể thêm mấy hạt châu lên không!”
Sở Hân nhìn tỷ tỷ:
“Vòng tay thôi, tỷ đừng làm roi, sẽ bị mẫu phi tịch thu đấy.”
Nhật Nguyệt cười:
“Nếu các muội thích, hôm nào ta có thể dạy làm dây kết đơn giản.”
Sở Vy vui vẻ:
“Thật sao?”
“Thật.”
Sở Ngọc Nhi lập tức chọn một bó chỉ màu lam và trắng.
“Ta muốn làm cho Thái Hậu một dây treo quạt.”
Sở Phan chọn màu đỏ và xanh lá.
“Ta làm cho phụ vương. À, làm thêm cho Âu Dương Thần một cái cũng được, hắn lần trước cũng giúp ta chép bài.”
Sở Hân nhìn nàng bằng ánh mắt sâu xa.
“Tỷ chỉ vì hắn chép bài cho tỷ thôi sao?”
Sở Phan chớp mắt:
“Chứ còn vì gì?”
Sở Hân quyết định không nói nữa.
Nhật Nguyệt nhìn vẻ ngây thơ của Sở Phan, không nhịn được mỉm cười.
Tình cảm trẻ tuổi đôi khi giống mầm cây dưới đất, người ngoài đã thấy đất nhú lên, chính mầm cây còn tưởng mình chỉ là hạt giống đang ngủ.
Bọn họ mua khá nhiều vật liệu.
Tiểu Ngân ôm gói đồ, vui vẻ hỏi:
“Tiểu thư, người làm gì trước?”
“Làm túi thơm cho mẫu thân, dây treo sách cho phụ thân, và một dây buộc tranh cho đại tỷ.”
“Còn nô tỳ?”
Nhật Nguyệt nhìn nàng.
“Ngươi muốn gì?”
Tiểu Ngân lập tức cười:
“Nô tỳ muốn vòng tay!”
“Được.”
Tiểu Ngân vui đến mức suýt nhảy lên.
Sở Vy nhìn các nàng, ánh mắt mềm mại.
“Nhật Nguyệt tỷ và Tiểu Ngân thật thân thiết, cứ như tỷ muội ruột thịt vậy.”
“Tiểu Ngân là người nhà của ta.” Nhật Nguyệt nói rất tự nhiên.
Tiểu Ngân nghe câu ấy, mắt lập tức đỏ.
Sở Phan hoảng:
“Ơ, sao lại khóc?”
Tiểu Ngân vội lau mắt:
“Nô tỳ không khóc. Cát bay vào mắt thôi ạ.”
Sở Ngọc Nhi nhìn trời.
“Ở giữa phố thế này cát ở đâu ra.”
Tiểu Xuân mỉm cười đưa khăn cho Tiểu Ngân.
Nhật Nguyệt bất đắc dĩ.
“Ngươi khóc ngoài phố, đại tỷ mà biết sẽ bảo chúng ta làm mất mặt phủ Thượng Thư đấy.”
Tiểu Ngân lập tức nín.
Câu nói ấy hiệu quả hơn mọi lời dỗ.
________________________________________
Chuyến dạo phố vốn rất vui, cho đến khi bọn họ đi ngang qua một con ngõ nhỏ gần khu chợ cũ phía đông.
Con ngõ ấy không quá hẹp, nhưng vì hai bên nhà cũ cao, mái chìa ra nhiều nên ánh nắng khó lọt xuống. Ban ngày mà bên trong vẫn hơi tối. Một góc ngõ có miếu nhỏ thờ thổ thần, mái ngói rêu phong, trước miếu cắm vài nén hương đã tàn.
Nhật Nguyệt vốn chỉ vô tình nhìn qua. Nhưng cổ tay trái đột nhiên buốt lạnh. Không giống cảm giác khi lần đầu thức tỉnh. Mà là lạnh như chạm vào tro ẩm. Nàng dừng bước.
Sở Vy nhận ra đầu tiên:
“Nhật Nguyệt tỷ?”
Nhật Nguyệt nhìn vào ngõ. Ở sâu bên trong, có một vệt bóng rất nhạt lướt qua góc tường. Nhanh đến mức nàng không chắc mình có nhìn nhầm không. Tiểu Ngân lập tức tiến lên nửa bước, thấp giọng:
“Tiểu thư?”
Sở Phan cũng nhìn vào.
“Trong đó có gì sao?”
Một bà lão bán hương ngồi gần miếu nhỏ nghe thấy, vội nói:
“Các tiểu thư đừng vào ngõ đó.”
Sở Hân quay sang:
“Vì sao ạ?”
Bà lão nhìn quanh, hạ giọng:
“Gần đây ngõ ấy không sạch sẽ.”
Sở Ngọc Nhi chớp mắt:
“Không sạch sẽ là có rác sao?”
Bà lão lắc đầu, mặt hơi trắng.
“Không phải rác. Là… có thứ không nên xuất hiện.”
Sở Phan lập tức hứng thú:
“Yêu quái?”
Sở Hân kéo tay tỷ tỷ.
“Tỷ đừng tỏ ra vui mừng như vậy.”
Bà lão thấy bọn họ là tiểu thư quý tộc, lại có hộ vệ, vừa muốn nói vừa sợ gây họa, giọng càng nhỏ:
“Lão chỉ nghe người quanh đây nói thôi. Mấy hôm nay, trời vừa sập tối là trong ngõ có tiếng gọi người. Có người nghe thấy tiếng người thân đã mất gọi mình, có người ngửi thấy mùi cơm nhà, có người thấy ánh đèn nhỏ ở cuối ngõ. Ai đi vào thì… thì sáng hôm sau không nhớ mình đã đi đâu, người lạnh như băng, có kẻ còn bệnh liệt giường.”
Tiểu Ngân rùng mình.
“Ma sao?”
Bà lão vội làm dấu cầu thần.
“Có người bảo là ma xó. Có người bảo là tà linh ở góc nhà hoang, lâu ngày hút hơi người mà thành tinh. Lão không biết thật giả. Nhưng các tiểu thư tốt nhất đừng vào. Ban ngày còn đỡ, tối xuống thì tránh xa.”
Ma xó.
Nhật Nguyệt từng đọc về loại này trong tư liệu dân gian.
Một dạng linh thể gắn với góc nhà, góc bếp, chỗ tối, đôi khi bị người nuôi để giữ của, nghe ngóng, làm hại người khác. Trong thế giới Đại Sở, nếu một ma xó bị bỏ quên nơi nhà hoang, lại nhiễm tà khí, có thể biến thành thứ chuyên lẩn trong ngõ tối hút sinh khí người đi qua.
Không quá mạnh như thuồng luồng hay Mộc tinh.
Nhưng âm hiểm. Hợp với chốn thành thị. Hợp để gieo sợ hãi trong dân chúng. Sở Vy hơi sợ, nhưng vẫn tò mò:
“Có ai báo quan chưa?”
Bà lão thở dài:
“Báo rồi. Quan phường cho người đi xem, ban ngày chẳng thấy gì. Đêm thì mấy sai dịch không dám vào sâu. Khâm Thiên Giám gần đây bận kiểm tra tà khí sau lễ thần sông, chưa thấy người đến.”
Sở Hân nhíu mày.
“Nếu đã có người bị hại, sao lại chưa xử lý?”
Bà lão nhìn nàng, cười khổ:
“Tiểu thư à, Đông Kinh rộng lắm. Mỗi ngày có người bệnh, người mất đồ, người cãi nhau, người thấy ma. Chưa chết người thì quan phủ cũng khó làm lớn.”
Chưa chết người. Câu ấy rơi xuống rất nhẹ, nhưng khiến Nhật Nguyệt không thoải mái. Nàng nhìn lại con ngõ. Bóng tối bên trong nằm im. Như một con thú nhỏ đang giả chết. Sở Phan muốn bước lên xem, nhưng Sở Hân kéo mạnh tay nàng.
“Không được.”
“Ta chỉ nhìn thôi.”
“Không.”
Sở Ngọc Nhi cũng nhỏ giọng:
“Ta thấy nơi đó thật lạnh lẽo và u tối.”
Nàng có thần tích tinh thần và sương mù, cảm giác với những thứ âm u có lẽ nhạy hơn người thường. Nhật Nguyệt gật đầu:
“Chúng ta không vào. Về trước đã.”
Sở Phan hơi tiếc, nhưng lần này không bướng bỉnh mà đòi vào, nàng cũng hiểu sự tò mò sẽ giết chết người. Tiểu Ngân thở phào rõ rệt. Nhóm người rời khỏi con ngõ.
Nhưng khi xe ngựa đưa Nhật Nguyệt về phủ, trong lòng nàng vẫn vương cảm giác buốt lạnh ẩm ướt khó chịu ở cổ tay. Bóng đen ấy là gì? Ma xó thật sao? Hay chỉ là lời đồn do dân chúng sợ hãi? Nàng không biết.
Nhưng nàng có linh cảm, chuyện này sẽ không dừng ở đây.
________________________________________
Ngày hôm sau, lời đồn về ngõ tối đã lan đến Quốc Tử Giám.
Giờ nghỉ trưa, Tử Hàn Diệp hớt hải chạy vào sân, trên tay còn cầm nửa chiếc bánh chưa ăn xong.
“Các ngươi nghe gì chưa? Chợ Đông có ma!”
Sở Gia Huy đang uống nước, suýt sặc.
“Ban ngày ban mặt làm gì có ma.”
Tử Hàn Diệp lập tức ngồi xuống.
“Không phải ta nói bậy. Sáng nay ta đi ngang Thanh Long môn, nghe người ta kể có một người bán cá mất tích.”
Nhật Nguyệt khựng lại.
“Mất tích?”
Hoàng Nhã Nhã cũng đặt chén trà xuống. Tử Hàn Diệp gật đầu.
“Là nam tử bán cá ở chợ cũ. Tối qua dọn hàng về muộn, đi qua ngõ miếu nhỏ rồi không về nhà. Sáng nay vợ hắn đi tìm, chỉ thấy đôi guốc rơi ở đầu ngõ, cá trong sọt vương đầy đất, người thì không thấy.”
Sở Vy che miệng thản thốt. Sở Phan trợn tròn mắt:
“Thật sự có yêu quái?”
Sở Hân nhíu mày:
“Có khi nào là bị cướp không?”
“Ban đầu ai cũng nghĩ vậy.” Tử Hàn Diệp nói. “Nhưng bạc vụn trong túi vẫn còn. Sọt cá cũng còn. Chỉ có người là không thấy đâu cả.”
Sở Ngọc Nhi rùng mình.
“Chỉ có người là không thấy nghe còn đáng sợ và ghê rợn hơn cả chuyện bị cướp.”
Sở Gia Huy sắc mặt hơi xanh.
“Có khi nào hắn dàn dựng hiện trường để bỏ trốn không?”
Tử Hàn Long đi tới, lạnh nhạt nói:
“Người có muốn bỏ trốn cũng không thể để guốc ngay đầu ngõ và cá đổ khắp đất, ít nhất thì cũng phải đem theo túi bạc chứ.”
Sở Gia Huy nhìn huynh đệ Tử Hàn.
“Tử Hàn Long, ngươi nói chuyện có thể bớt giống phá án được không?”
Tử Hàn Long đáp:
“Ta chỉ đang phân tích hiện trường theo hướng đúng với tâm lý người nhất thôi, vả lại tại sao hắn lại phải bỏ trốn.”
Sở Trọng Duy nhìn Nhật Nguyệt:
“Hôm qua các muội đi ngang ngõ đó sao?”
Nhật Nguyệt gật đầu.
“Có nghe bà lão bán hương kể mấy hôm nay trong ngõ có tiếng gọi người. Bà ấy nói có thể là ma xó hoặc tà linh nhà hoang.”
Sở Gia Huy lập tức xoa tay.
“Ma xó… nghe đã thấy không ổn.”
Sở Phan nhìn hắn:
“Ngũ ca, huynh sợ ma à?”
Sở Gia Huy lập tức ngồi thẳng.
“Ta là Vương Gia, sao có thể sợ?”
Sở Ngọc Nhi chớp mắt:
“Lần trước nghe chuyện ma gà xong, huynh nhất quyết kéo Bát ca đến phủ đệ của huynh ngủ cùng.”
Sở Trọng Duy ho nhẹ.
Sở Gia Huy lập tức nghiêm túc:
“Ta chỉ lo lắng là Bát đệ sợ, ta là Ngũ ca của đệ ấy thì phải che chở cho đệ ấy chứ.”
Sở Trọng Duy rất thành thật:
“Đệ không có sợ.”
Sở Gia Huy: “…”
Tử Hàn Diệp cười ngã ra bàn.
Không khí vì vậy bớt căng thẳng một chút, nhưng sự việc người bán cá mất tích vẫn đè trong lòng mọi người như 1 tảng đá.
Buổi chiều, trong tiết Trùng Thiên Điện, Sở Tĩnh Hàn và Sở Viên cũng nhắc đến chuyện này.
Sở Tĩnh Hàn đứng trước học viên, giọng bình tĩnh:
“Gần đây khu chợ cũ phía đông có lời đồn tà linh ngõ tối. Sáng nay có một dân phu bán cá mất tích. Quan phủ đã báo lên Khâm Thiên Giám. Việc điều tra đã được giao cho các pháp sư của Khâm Thiên Giám, ta cũng biết trong số các ngươi đã có người nghe về sự việc này vì vậy khi chưa được sự cho phép từ chúng ta thì các ngươi không được tự ý đến đó.”
Ánh mắt hắn lướt qua Sở Phan, Sở Gia Huy, Tử Hàn Diệp.
“Nhất là những người có ý nghĩ tò mò không biết phân biệt nặng nhẹ.”
Sở Phan lập tức cúi đầu. Tử Hàn Diệp nhìn trời. Sở Gia Huy giả vờ chỉnh tay áo. Sở Viên cười nói tiếp:
“Yêu quái có yếu cũng là yêu quái. Một con dao nhỏ vẫn có thể giết người nếu các ngươi đưa cổ đến gần. Trùng Thiên Điện dạy các ngươi thần tích không phải để các ngươi đi tìm chết trước khi biết tự bảo vệ.”
Sở Tĩnh Hàn gật đầu rất nhẹ.
“Hôm nay luyện phối hợp căn bản. Nếu sau này Khâm Thiên Giám cần học viên hỗ trợ, các ngươi ít nhất phải biết không cản chân nhau.”
Câu này vừa nói ra, mọi người lập tức hiểu. Có thể chưa được giao nhiệm vụ. Nhưng nếu muốn được xông pha, được thử sức thì phải cố gắng khổ luyện. Nhật Nguyệt đứng bên Thủy Trì, cổ tay buốt lạnh. Ma xó. Tà linh ngõ tối. Người mất tích. Nàng nhìn mặt nước trong hồ, bỗng thấy bóng mình hơi mờ. Như có một lớp sương đen rất mỏng lướt qua đáy nước. Nàng chớp mắt. Không còn gì. Nàng không biết đó là linh cảm hay tưởng tượng.
Nhưng từ giây phút ấy, cảm giác bất an dần bắt đầu mọc rễ trong lòng.
________________________________________
Những ngày sau đó, lời đồn lớn dần như cỏ mọc sau mưa.
Ngày đầu, chỉ là người bán cá mất tích.
Ngày thứ hai, một phu khuân hàng ở bến Thanh Long cũng không trở về. Đồng bạn nói hắn đi tắt qua ngõ cũ để về nhà vì trời sắp mưa. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy đòn gánh của hắn đặt ngay ngắn trước miếu nhỏ, hai đầu gánh vẫn còn hàng, nhưng người thì lại biến mất.
Ngày thứ ba, một bà lão bán xôi nói mình nghe thấy con trai đã chết trận gọi từ cuối ngõ. Nếu không có cháu gái kéo lại, bà đã đi vào. Bà kể rằng tiếng gọi ấy giống thật đến mức tim bà đau như bị ai bóp.
Ngày thứ tư, một tiểu thương bán vải đi qua ngõ lúc chạng vạng, trở về thì mê man, miệng lẩm bẩm “góc nhà có mắt”. Đến sáng hắn tỉnh lại, tóc bạc đi một nhúm nhỏ, người lạnh như vừa ngâm nước giếng cả đêm. Hắn không mất mạng, nhưng không nhớ mình đã gặp gì.
Ngày thứ năm, trước cửa miếu nhỏ xuất hiện vài dấu tay đen trên tường. Không ai biết ai để lại. Quan phường cho người quét đi, chiều lại hiện. Dân chúng bắt đầu tránh khu chợ cũ khi trời gần tối. Hàng quán dọn sớm. Trẻ con được dặn không được chơi gần ngõ.
Bà lão bán hương trước miếu chuyển sang ngồi xa hơn hai mươi bước, nhưng vẫn không bỏ chỗ vì đó là kế sinh nhai của bà.
Có người nói đó là ma xó của một nhà cũ từng bị cháy, chủ nhà chết không ai thờ cúng nên hóa tà.
Có người nói không phải ma xó, mà là chuột tinh trong cống ngầm giả tiếng người để dụ dân.
Có người nói sau lễ tế thần sông, tà khí từ thuồng luồng bị đánh tan, một phần trôi vào cống nước Đông Kinh, làm những thứ âm u trong thành thức dậy. Câu nào cũng chưa được chứng thực. Nhưng nỗi sợ không cần chứng thực vẫn lớn lên. Nó chui vào bát cơm của dân chợ. Chui vào tiếng rao thưa dần lúc chiều. Chui vào tay người mẹ kéo con khỏi ngõ tối. Chui vào ánh mắt của những người phải về muộn.
Đông Kinh vẫn náo nhiệt ban ngày, nhưng khi mặt trời lặn, khu phía đông thành như bị ai phủ lên một tấm vải xám.
Ở Quốc Tử Giám, học viên cũng không còn chỉ xem đó là chuyện kể. Trong giờ nghỉ, Sở Phan không còn hào hứng đòi đi xem nữa. Sở Hân lặng lẽ hỏi giáo quan liệu người mất tích có còn sống không.
Sở Vy nghe xong buồn cả buổi, nói nếu người bán cá có con nhỏ thì chúng sẽ chờ cha thế nào.
Sở Ngọc Nhi trở nên nhạy cảm hơn, mấy lần nói nàng mơ thấy sương đen ở ngõ nhỏ.
Sở Gia Huy ngoài miệng vẫn nói không sợ, nhưng hôm Trùng Thiên Điện luyện đến muộn, hắn nhất quyết kéo Sở Trọng Duy đi cùng qua hành lang tối.
Tử Hàn Diệp thì muốn đi điều tra nhưng bị Tử Hàn Long tóm cổ áo kéo về lớp.
Đoan Mộc Hồng Sa ngồi một bên, nhẹ giọng nói:
“Chỉ là lời đồn mà làm mọi người hoang mang như vậy, chẳng phải càng khiến dân chúng loạn sao?”
Nhật Nguyệt nghe thấy, nhìn nàng một cái. Đoan Mộc Hồng Sa nói không hoàn toàn sai. Lời đồn có thể hại người.
Nhưng khi người thật sự mất tích, chỉ dùng hai chữ “lời đồn” để phủ xuống cũng là quá thờ ơ và lạnh lùng trước những điều đó. Trần Huy đứng gần đó trầm giọng:
“Nếu là lời đồn, quan phủ tra rõ là được. Nếu không phải, càng nên phải tra cho rõ ràng.”
Dật Hoài Nam gật đầu:
“Dân chúng sợ vì không biết sự thật. Sự thật phải được tìm ra.”
Tử Hàn Long nhìn hai người, nói:
“Khâm Thiên Giám sẽ không bỏ qua. Chỉ là cần xác định yêu khí, tránh đưa người không đủ năng lực vào nguy hiểm.”
Nhật Nguyệt không nói. Nàng chỉ nhìn cổ tay mình. Đóa ngân liên dưới tay áo mờ nhạt.
Nàng đã học được cách điều khiển nước, tạo dải nước, kết băng mỏng, cảm nhận sinh vật dưới nước trong phạm vi gần. Nàng tiến bộ thật, nhưng nếu đối mặt tà linh ngõ tối, liệu nàng có làm được gì không? Nàng không biết.
Nhưng nàng nhớ đứa trẻ bị cuốn ở lễ tế thần sông. Nhớ khoảnh khắc mình không kịp nghĩ đã lao ra. Nếu lần này cũng có người cần cứu thì sao? Nếu những người mất tích còn sống thì sao?
Nếu ma xó thật sự chỉ là yêu quái không quá mạnh, nhưng vì không ai xử lý kịp mà nó lớn mạnh dần thì sao? Chiều hôm ấy, Sở Tĩnh Hàn cho nàng luyện thanh thủy.
Đây là bài học mới: dùng thần lực làm sạch một bát nước bị pha bùn và tro, tách phần đục xuống đáy, giữ phần trong bên trên.
Nhật Nguyệt làm khá tốt. Có lẽ vì sau lễ tế, nàng từng tách tà khí khỏi nước. Bài này dễ hơn nhiều. Sở Tĩnh Hàn nhìn bát nước, nói:
“Ngươi có thiên phú thanh tẩy.”
Nhật Nguyệt ngẩng đầu.
“Thanh tẩy?”
“Không chỉ điều khiển. Thần tích của ngươi có hướng trừ tà, trị uế. Sau này nếu gặp tà khí, ngươi sẽ hữu dụng.”
Nàng im lặng một chút.
“Giáo thụ nói nếu gặp tà khí… là như chuyện ở ngõ cũ sao?”
Sở Tĩnh Hàn nhìn nàng. Ánh mắt hắn rất sắc bén, như lập tức nhìn ra nàng đang nghĩ gì.
“Không được tự ý đến đó khi chưa có sự cho phép.”
“Thần nữ không có ý đó.”
“Dù là một tia ý nghĩ cũng nên thu lại.”
Nhật Nguyệt nghẹn. Tam giáo thụ có thể đọc tâm sao? Sở Tĩnh Hàn đặt bát nước xuống.
“Người muốn cứu người trước tiên phải biết mình có thể làm gì. Ngươi hiện tại mới học khởi đầu. Chưa đủ năng lực để có thể một mình đối mặt với yêu tà.”
Nàng cúi đầu.
“Thần nữ biết.”
“Biết thì luyện tiếp.”
“Vâng.”
Hắn không an ủi nàng. Nhưng lời hắn khiến nàng tỉnh táo.
Đúng.
Nàng muốn cứu người. Nhưng muốn không có nghĩa là có thể dời non lấp bể, mà phải dùng thực lực để có thể cứu người, nếu không thì chỉ có thể trở thành con mồi hay hòn đá ngán chân người khác.
Nếu sau này thật sự phải đối mặt với yêu quái, nàng cần mạnh hơn bây giờ, dù chỉ một chút.
Nàng đặt tay lên bát nước. Đóa ngân liên sáng lên. Nước đục chậm rãi trong lại.
________________________________________
Đêm xuống Đông Kinh.
Gió từ Thanh Long môn thổi qua bến sông, mang theo hơi nước lạnh.
Khu chợ cũ phía đông đã tắt đèn sớm hơn thường lệ. Những quầy hàng ban ngày còn đầy tiếng mặc cả nay đã đóng cửa im lìm. Mấy chiếc đèn lồng trước hiên lay nhẹ, ánh sáng vàng yếu ớt không chiếu tới sâu trong ngõ.
Miếu nhỏ ở góc đường vẫn còn một nén hương cháy dở. Khói hương cong lên, rồi bị gió thổi tạt vào trong ngõ tối. Không ai đi qua. Không ai dám đi qua.
Nhưng ở cuối phố, một thiếu niên gầy gò ôm túi thuốc chạy vội.
Mẹ hắn bệnh nặng, đại phu bắt uống thuốc ngay trong đêm. Hắn đi đường vòng thì quá xa, trời lại sắp mưa. Hắn đứng trước đầu ngõ, nuốt nước bọt.
“Chỉ chạy qua thôi… chỉ một đoạn thôi…”
Hắn tự nói với mình. Con ngõ im lặng. Đèn ở đầu bên kia mờ mờ, nhìn như rất gần. Thiếu niên cắn răng bước vào.
Một bước. Hai bước. Ba bước.
Tiếng phố sau lưng nhỏ dần. Không khí dần lạnh hơn.
Tường hai bên ẩm ướt, rêu xanh bám thành mảng. Mùi tro, mùi gỗ mục, mùi thức ăn cũ không biết từ đâu len lỏi ra.
Thiếu niên ôm chặt túi thuốc. Bỗng, từ cuối ngõ vang lên một giọng nói rất khẽ.
“Con về rồi à?”
Hắn đứng khựng lại. Mặt hắn trắng bệch. Giọng ấy…
Là giọng mẹ hắn. Nhưng mẹ hắn đang nằm bệnh ở nhà mà.
“Con về rồi à?”
Giọng nói lại vang lên, dịu dàng, mệt mỏi, quen thuộc đến mức nước mắt hắn trào ra.
“Mẹ?”
Hắn bước thêm một bước. Đèn ở cuối ngõ chớp tắt liên tục.
Trong ánh đèn ấy, dường như có bóng một người phụ nữ ngồi bên bếp, quay lưng về phía hắn.
Mùi cháo nóng lan ra. Mùi ẩm mốc của căn nhà quen thuộc. Mùi thuốc trên người mẹ. Thiếu niên run rẩy bước tới. Túi thuốc trong tay rơi xuống đất.
Bịch.
Gió thổi qua. Nén hương trước miếu nhỏ tắt phụt. Bóng tối trong ngõ bỗng khép lại như miệng một con thú. Một tiếng gọi nghẹn trong cổ họng. Rồi im.
Đêm ấy, mưa rơi xuống Đông Kinh. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy túi thuốc ướt sũng ở giữa ngõ. Thuốc vẫn còn. Dấu chân thiếu niên đi vào còn in trên bùn.
Nhưng không có dấu chân đi ra. Tin này truyền đến Quốc Tử Giám trước giờ học. Lần này, không ai còn cười. Không ai còn nói chỉ là lời đồn. Ba người mất tích.
Một người trở về mê man. Nhiều người nghe tiếng gọi. Dấu tay đen trên tường miếu.
Và ngõ tối như có miệng, nuốt từng người lẻ loi đi qua.
Khi Lê giáo quan bước vào Văn Minh Đường, không khí trong lớp nặng như trời trước bão.
Ông không giảng bài ngay. Chỉ đặt sách xuống, nhìn đám học trò trẻ tuổi.
“Khâm Thiên Giám đã xác nhận, khu chợ cũ phía đông có yêu khí.”
Mọi người im phăng phắc. Nhật Nguyệt cảm thấy cổ tay trái lại buốt lên.
Lê giáo quan nói tiếp:
“Chưa xác định yêu vật là gì, nhưng bước đầu nghi là tà linh thuộc loại ma xó, ẩn trong nhà hoang hoặc ngõ tối, có khả năng giả âm thanh thân thuộc để dụ người. Từ hôm nay, tất cả học viên không được tự ý đến khu chợ cũ. Trùng Thiên Điện sẽ phối hợp Khâm Thiên Giám điều tra khi có lệnh.”
Sở Phan siết tay. Sở Vy cúi đầu, mắt dần ửng đỏ. Sở Hân mím môi. Sở Ngọc Nhi nhìn ra ngoài cửa, sắc mặt hơi tái. Sở Gia Huy không đùa giỡn nữa. Sở Trọng Duy nhíu mày.
Tử Hàn Diệp đặt nửa chiếc bánh xuống, lần đầu tiên không còn tâm trạng ăn tiếp.
Tử Hàn Long ánh mắt trầm xuống. Đặng Anh Phi khẽ siết khăn tay.
Trần Huy và Dật Hoài Nam nhìn nhau, đều thấy vẻ nghiêm trọng trong mắt đối phương.
Hoàng Nhã Nhã quay sang nhìn Nhật Nguyệt. Nhật Nguyệt nhìn lại tỷ tỷ, rồi cúi xuống cổ tay mình. Dưới lớp vải, đóa sen bạc lặng lẽ sáng lên một tia rất mỏng.
Như trăng non sau mây. Như nước trước khi dậy sóng. Nàng biết, những ngày học trò yên bình đầu tiên sắp tạm khép lại.
Quốc Tử Giám là khởi đầu. Trùng Thiên Điện là khởi đầu.Thần tích là khởi đầu. Tình bạn mới là khởi đầu.
Và lời đồn về ma xó nơi ngõ tối kia, có lẽ cũng là khởi đầu cho lần đầu tiên nàng cùng những người bạn học Đại Sở bước ra khỏi sân học, đối mặt với yêu tà thật sự.
Ngoài sân, chuông Quốc Tử Giám vang lên.
Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng.
Gió thổi qua hàng cây cổ thụ, lá rơi xuống sân gạch.
Đông Kinh vẫn sáng dưới mặt trời.
Nhưng ở phía đông thành, có một con ngõ không còn thuộc về ban ngày nữa.
Và trong bóng tối ẩm lạnh ấy, thứ gì đó đang trực chờ nuốt lấy linh hồn và máu thịt của những kẻ lầm đường lạc lối.
Nếu thấy truyện hay, đạo hữu có thể ném cho tác giả vài viên Linh Thạch để lấy tinh thần bạo chương!